Mùa xá tội vong nhân người trần lại... "chia chác"

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

(TuanVietNam) - Không ít người nhầm lẫn cho rằng "xá tội vong nhân" chỉ bằng việc cúng thật nhiều vàng mã tiền giả cho người đã khuất.

 

Mùa xá tội trở thành... mùa "chia chác" lợi nhuận

Nguyễn Du từng nói đến các nạn nhân chết đói chết trận và chết với nhiều hình thức oan khuất khác bằng một câu khái quát: "Buổi chiến trận mạng người như rác" (Văn chiêu hồn).

Với những khủng hoảng nhân đạo nhân văn ấy rất nhiều vong linh không có được bàn một thờ trong không gian ấm cúng của gia đình. Nhưng với triết lý "thương người như thể thương thân" từ rất lâu đời trong tâm thức người Việt luôn hiện diện một "bàn thờ" để nhớ thương đến họ. Hàng năm "bàn thờ" ấy được thiết lập trong mùa Vu Lan và người Việt luôn dành sự trân trọng để hướng đến điều lành bằng tâm xá tội.

Mùa Vu Lan mang ý nghĩa báo đáp ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và xá tội cho những linh hồn oan khuất không nơi nương tựa. Đó là niềm tin và nếp sống đạo của dân tộc mà đa số người Việt còn giữ gìn được trước làn sóng vị kỷ thực dụng đang xô đẩy trong từng ngõ ngách đời sống.

Nhưng hiện nay không ít người nhầm lẫn cho rằng "xá tội vong nhân" chỉ bằng việc cúng thật nhiều vàng mã tiền giả cho người đã khuất.

"Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào?"

Nguy hiểm hơn cả chính là sự tấn công không thương tiếc từ bên trong động cơ về quyền lợi rằng người đã khuất luôn đòi hỏi nhiều hơn những nhu cầu vật chất khi họ từng phải sống trong cảnh lang thang đói khổ.

Vì thế không ít người đã nghĩ ngay đến việc làm sao cho người chết có được sự hưởng thụ vật chất nhiều hơn mà ít quan tâm đến lòng chân thành cầu nguyện cho những vong hồn được sống trong tình thương ấm áp và sự nhớ tưởng của đồng loại.

Không ít người đã "hiện thực hoá" cảnh sống của người đã khuất bằng cách cấp thật nhiều "tiền vàng" "đô-la" "máy bay" "xe hơi" và cả những "người giúp việc" cho họ với mong muốn họ sẽ phù hộ cho mình phát quan phát tài phát lộc.

Việc làm ấy vô tình trở thành sự "chia chác" lợi nhuận giữa kẻ còn người mất một cách đầy tham lam và vị kỷ từ đó thói hợm hĩnh rởm đời hình thành qua những hình thức có vẻ như "giàu bản sắc".

Sự phá sản niềm tin

Vào những năm 1950 của thế kỷ trước Hoà thượng Thích Tố Liên từng nói: "Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu các ngài tìm thấy bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu".

Vì sao những lợi ích vật dục ngày càng biến tướng vào trong những giá trị tâm linh tốt đẹp đó của dân tộc? Vì họ đã hiểu sai về hành vi bố thí; họ nghĩ rằng sự phù trợ của người đã khuất có thể làm cho họ nhanh chóng được đổi đời. Và những người có quyền thế hơn ai hết càng ra sức làm to đẹp mồ mả từ đường của dòng họ mình.

Sống theo luật nhân quả là lối sống lành mạnh không lệ thuộc vào sự ban phúc giáng họa viển vông. Và một đời sống tốt đẹp hiền thiện chỉ được nhìn nhận bằng những thái độ ứng xử phù hợp với các giá trị khác nhau trong xã hội.

Bởi dù ở hoàn cảnh sống nào con người đều cần đến tình thương sự sẻ chia và lòng trắc ẩn ở đó vật chất có thể đem lại một số giá trị nhưng vĩnh viễn không thể thay thế được những giá trị tâm linh tinh thần.

Sự phá sản niềm tin về nguồn gốc tổ tiên bằng liên hệ tiền bạc và mối tương quan nhân quả giữa kẻ còn người mất bị xem thường minh chứng cho một khoảng trống văn hoá ứng xử không thể lấp đầy khi người ta lấy sự ồn ào tìm kiếm lợi nhuận của chính mình để tô điểm cho nơi chốn của người đã khuất trở nên những "ngôi nhà" bạc tỉ hay những cuộc lễ đầy tốn kém nhằm khuếch trương thanh thế hơn là sự tỏ lòng hiếu đễ.

Tài sản do mồ hôi nước mắt của con người tạo ra đã trở nên quá hoang phí cho những "mục tiêu" phát quan phát tài phát lộc kiểu này. Thay vì nêu cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc người ta biến tâm linh thành mảnh đất "bảo trợ" cho những tham vọng ích kỷ của riêng mình riêng dòng họ mình.

Tâm tha thứ và lòng hướng thiện

Ý nghĩa của mùa Vu Lan là người chưa sống hiếu thảo thì trở nên hiếu thảo người đầy đọa được tự do người đói khổ được no ấm người có tội được tha thứ người oan ức được giải oan...

Và chiều sâu của những ý nghĩa ấy là tâm tha thứ và lòng hướng thiện. Dân tộc ta lúc đói no khi chiến tranh hay hòa bình đều ý thức về việc ứng xử nhân nghĩa vị tha độ lượng. Vì những trải nghiệm sống luôn cho chúng ta nhận thức được rằng hận thù luôn là những nguồn bất hòa trực tiếp tạo ra sự đau khổ về thể xác và tinh thần.

Nếu như mỗi người đều hướng đến điều thiện đừng sống vì sự ích kỷ riêng của bản thân thì những giá trị tốt đẹp đó luôn hiện diện trong mọi ứng xử xã hội.

Tâm thức và linh hồn tổ tiên sẽ trở về đoàn tụ trong lễ mọn tâm thành
nên rất cần mỗi người thiết lập một bàn thờ như thế.

Người Việt đã tô đậm tâm thức hướng thiện ấy bằng quan điểm "xá tội". Xá tội cho người là bảo vệ sự bình yên cho mình. Bởi từ xưa đến nay cảnh thiếu thốn loạn lạc đều do sự bất công bằng và thiếu liêm khiết gây ra.

Khao khát tự do là sự buông bỏ hận thù và những hành vi tội lỗi. Khi tâm thức ấy giữa kẻ còn người mất tương ứng với nhau thì cánh cửa tự do giữa âm gian và trần thế mở ra không cần phải đợi bất cứ "phán quan" nào xét hỏi. Một vị quan tham một người sống bất nhân bất nghĩa không tin nhân quả làm sao có thể đứng ra làm chủ cho những cuộc lễ với ý nghĩa tha thứ và thanh tẩy tâm hồn.

Tâm thức và linh hồn tổ tiên sẽ trở về đoàn tụ trong lễ mọn tâm thành nên rất cần mỗi người thiết lập một bàn thờ như thế. Và chỉ có tâm thành hướng thiện lòng vị tha bao dung mới có thể sưởi ấm các linh hồn dân tộc. Ngày rằm tháng bảy từ bao đời nay đã trở thành ngày lễ trọng của đa số người Việt vì ngày lễ ấy đã đang và sẽ giữ vững niềm tin cho dân tộc về một đạo lý tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn".

Thích Thanh Thắng

More...

Đại địa mạch quốc gia

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

Những tìm hiểu của KTS Trần Thanh Vân về vấn đề đại địa mạch quốc gia. 

 

Chuyện 700 năm trước

Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288 có hai người "phạm lỗi" với Triều đình nhà Trần nhưng đều đã lập nên chiến công lớn góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài nhưng ăn nói thì quá mạnh bạo mà sinh hoạt thì hơi phóng túng nên bị nhà Vua tước hết quan chức bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.

Nhưng cũng tại nơi đây Trần Khánh Dư được phục chức và đã trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đã chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Võ đã giỏi văn cũng hay sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Hưng Đaọ ông viết như sau:

Người giỏi võ cầm quân thì không cần bày trận
Người giỏi bày trận thì không cần đánh
Người giỏi đánh thì không thua
Người khéo thua thì không chết

Sách cũ cũng kể rằng Trần Quốc Tảng là một người có tài đặc biệt về quân sự nhưng vì lúc nhỏ luôn ở bên cạnh ông nội là Trần Liễu nên Quốc Tảng từng có biểu hiện muốn cướp ngôi vua từ trong tay giòng thứ để giành ngôi cho cha mình là dòng trưởng khiến Trần Hưng Đạo giận nên đã "đẩy" con trai đi trấn thủ tận Cửa Suốt là một nơi ở rất xa Triều đình để tránh hậu hoạ.

Nhưng cũng tại nơi biên cương Tổ quốc này Hưng Nhượng Vương đã lập nên kỳ tích trong trận thắng Bạch Đằng Giang năm 1288 khiến cho sau khi ngài qua đời năm 1313 nhân dân đồn rằng Đức Ông Trần Quốc Tảng hiện về nhắc nhở nên đã xây Đền thờ Ngài cùng nhiều tướng lĩnh ở ngay trên đỉnh núi nhìn ra Bái Tử Long.

Ngày nay ngôi Đền Cửa Ông toạ lạc trên núi cao không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long khiến cho hậu thế có nhiều người thắc mắc rằng có thật là hai vị tướng danh tiếng đó do vì có tội nên bị điều ra tận nơi biên cương ấy hay phải chăng đây cũng là một trong những "bí truyền thư" mà Đức Thánh Trần đã lưu lại để dậy bảo cho chúng ta?

Đền Cửa Ông không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long

Khi bí mật không còn là bí mật

Cách đây gần 10 năm trên mạng thông tin quốc tế có một tấm bản đồ thật thú vị: Hình một con rồng rất đẹp mà đầu thì ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn ( đỉnh Everest cao 8.888m nóc nhà của thế giới) lưng uốn theo hướng Tây Bắc Đông Nam của dãy núi cao thấp dần và đuôi xoè ra ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam sau đó đi xuống vùng Vịnh Bắc Bộ và đã kết thúc ở vùng đại dương sâu nhất thế giới (Vịnh Mindanao ở Philippines sâu 10.800m).

Đó là tấm sơ đồ sơn thuỷ ở phạm vi vĩ mô tầm thế giới. Thật kỳ diệu các triền núi đó không thẳng băng mà uốn lượn như hình con rồng tạo ra mạch núi và mạch nước tụ lại rồi lan tỏa ở trên đồng bằng Bắc Bộ nước ta.

Sơ đồ đại địa mạch

Thế mới biết tại sao vùng đất này luôn luôn bị người ngoài thèm khát và dòm ngó. Và thế mới biết sự uyên bác kỳ tài của Thiền sư Vạn Hạnh và Vua Lý Thái Tổ đã quyết rời bỏ Hoa Lư để trở về vùng đất Thăng Long và triệt phá được thiên la địa võng mà Cao Biền đã trấn yểm trên thành Đại La cũ 200 năm trước.

Cho đến hôm nay tất cả những người có chút hiểu biết về phong thủy và lý thuyết về địa mạch thì đã hiểu rằng tất cả mọi bí mật xa xưa về đường kinh mạch về huyệt đạo linh thiêng mà chỉ có các thầy pháp cao tay mới nắm giữ được thì nay đã bị phơi bày ra tất cả.

Cái chính là "thiên hạ" thì biết cả nhưng những người trong cuộc có ý thức được vấn đề và có những giải pháp mạnh để làm chủ các lợi thế đó hay không?

Nhìn vào sơ đồ "vi địa mạch"

Trở lại với địa hình núi sông trên miền Bắc nước ta thì có 8 dãy núi vòng cung tạo thành hình rẻ quạt là dãy Đông Triều dãy Ngân Sơn dãy Bắc Sơn dãy Tam Đảo dãy Sông Gâm dãy Hoàng Liên Sơn dãy Sông Đà và dãy Hoà Bình trong đó Hoàng Liên Sơn nối từ Hy Mã Lạp Sơn về có đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương (3143m).

Hướng đi của các dãy núi đều hình thành các con sông như sông Hồng sông Chảy sông Lô sông Đà sông Đuống sông Cầu...

Thế nhưng các dãy núi chỉ "chầu" nên đều đã dừng lại từ xa còn các con sông thì đã "tụ" lại ở Việt Trì và nối thông với nhau và tỏa ra ở chính vùng Thăng Long. Kỳ diệu hơn nữa là ở ngay trên đất Thăng Long đã "mọc" lên ba ngọn núi khác: đó là cụm núi Ba Vì linh thiêng đầy huyền thoại. Đỉnh núi này nhìn theo đường chim bay thì chỉ cách Hồ Tây chừng 25Km.
Nhờ khoảng cách không quá xa nên khi thuyền của vua Lý Thái Tổ đi từ sông Hồng qua sông Tô Lịch vừa rẽ vào Hồ Dâm Đàm từ làng Hồ Khẩu mùa xuân năm 1010 nhà vua có thể nhìn thấy rồng cuộn sóng bay lên vừa nhìn thấy đỉnh Ba Vì nên cái tên Thăng Long và tứ văn "Đắc Long bàn Hổ cứ chi thế tiện núi sông hướng bôí chi nghi" mới xuất hiện trong bản Thiên đô chiếu bất hủ.

Ngày nay từ trên bản đồ vệ tinh ta có thể dễ dàng tìm thấy đỉnh cao 1226m nơi toạ lạc Đền Thượng thờ Tản Viên Sơn Thánh từ đó có một đường kinh mạch đi theo hướng chính Đông qua khu vực Đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị tiếp giáp với Hồ Tây ra đến tận Cảng Vân Đồn và Vịnh biển Bái Tử Long ở đó đã có đền Cửa Ông đầy linh thiêng mà nhân dân và hải quân ta hằng tôn thờ suốt 7 thế kỷ qua. Cảng Cửa Suốt của Đức Ông Trần Quốc Tảng xưa đã và sẽ mãi mãi là một quân cảng quan trọng nơi Bờ Đông của Tổ quốc.

Cũng trên bản đồ vệ tinh nếu nối một đường theo hướng Đông Bắc-Tây Nam mà mọi người quen gọi là Trục Thần Lộ đi từ đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị lên đến thành Cổ Loa- Kinh đô 2300 năm trước của vua An Dương Vương và cũng là Kinh đô hơn 1000 năm trước của vua Ngô Quyền trên trục đó ta sẽ gặp phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của Đại tướng Lý Thường Kiệt và Ngã ba sông Thiên Đức nơi Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lập đại bản doanh chỉ huy đánh quân Nguyên Mông năm 1284 và năm 1288.

Kỳ lạ thay đường chéo này đi tiếp rồi đi tiếp nữa sẽ đến Đồng Đăng cửa ải phía Bắc của Tổ quốc. Trong kinh dịch hướng Đông Bắc là hướng Ngũ quỷ lộc có nhiều mà hoạ cũng lắm vậy nên chăng phải có đôi mắt tinh anh của Đức Thánh Trần chấn ngữ cửa aỉ này ?

Những người có chút tính hiếu kỳ không thể không kinh ngạc khi phát hiện ra trục kinh mạch nằm ngang ở 21 độ vĩ bắc 3 28 từ đỉnh Ba Vì và trục Thần Lộ noí trên lại gặp nhau ở chính vùng nước cạnh Phủ Tây Hồ mà mọi người vẫn thành kính gọi là huyệt đạo quốc gia.

Tại sao có cái tên đó? Tại vì nơi đó vẫn sủi bọt mỗi khi mực nước sông Hồng dâng cao như thể hồ và sông là cái bình thông nhau. Nhiều người vẫn còn nhớ vào chiều thu nắng đẹp ngày 11/9/1955 người ta đã chứng kiến chính nơi đó đã có cột nước bất chợt phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền gỗ khiến 4 người bị thiệt mạng.

Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thế Hùng ở Viện Vật lý nghe mô tả lại hiện tượng đó thì đoán rằng chắc có kẻ nào đó đã chui xuống đáy hồ sờ soạng khiến mạch nước có áp xuất lớn bỗng bật lên như khi người ta mở nút chai rượu champagne?

Cảng Vân Đồn

Am Mỵ Châu thờ ai?

Lúc sinh thời giáo sư sử học Trần Quốc Vượng rất hay được mời đi nói chuyện ở nơi này nơi khác. Với giọng nói đầy tự tin giàu hình ảnh và hơi ngang ngang giáo sư Vượng có cách truyền đạt ý tưởng rất thuyết phục khiến cho người nghe chưa tin lắm mà vẫn phải tin đặc biệt với người không theo học ngành sử hiểu biết sử liệu rất ít mà cũng trở thành rất "am hiểu" về lịch sử. Xin kể đôi điều câu chuyện ông giải thích về am Mỵ Châu ở thành Cổ Loa như sau.

Trong một dịp ngày 8 tháng 3 chúng tôi được nghe một bài giảng của giáo sư Trần Quốc Vượng về tầm quan trọng của Cổ Loa Thành và am thờ nàng Công Chúa Mỵ Châu đối với Thủ đô của chúng ta.

Giọng đầy vẻ bí mật giáo sư Vượng hỏi:

-Các cô có hiểu tại sao hơn 2000 năm qua nhân dân ta kể từ vua chúa đến thường dân đều thành kính thờ một người con gái cụt đầu có tên là Công Chúa Mỵ Châu trong một cái am nho nhỏ ở Đền Cổ Loa hay không?

- Dạ không

Đó chính là ta thờ Người Mẹ Tổ Quốc của chúng ta đó. Chuyện tình duyên của Mỵ Châu Trọng Thuỷ là chuyện bịa đặt nhưng chuyện dân tộc ta vì quá nhân hậu và thiếu cảnh giác nên trót đặt trái tim lên đầu để Triệu Đà cướp mất nước là có thật. Đạo gốc của dân tộc ta là Đạo Mẫu. Bản chất người mẹ là bản chất nhân hậu và dễ bị lừa.

Xưa kia dân tộc ta đã từng bị lừa hiện nay cũng đang bị lừa và có thể ta còn bị lừa nữa bởi vậy nàng Công Chúa Mỵ Châu cụt đầu là hiện thân của Người mẹ Tổ quốc đã và đang đau khổ nhắc ta phải luôn cảnh giác."

- Vậy câu chuyện nỏ thần là có thật hay không?

- Không! Ta có một bí mật quốc gia quý hơn nỏ thần nhiều nhưng không ai ăn cắp được. Từ 2000 năm trước bí mật đó đã không còn là bí mật nữa rồi nhưng kẻ thù đã từng ra sức phá. Hiện nay chúng cũng đang phá bằng khẩu hiệu "bài đế phản phong" để ta tự phá ta để ta quên đi ta đang có báu vật trong tay.

- Vậy làm cách nào để khắc phục?

- Thiên cơ bất khả lộ. À có cô nào thích xem tử vi không?

- Có ạ có ạ!

- Tốt tôi sẽ lập lá số cho từng người và sẽ có lời khuyên riêng từng người.

 

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng rất giỏi khoa tử vi ông chỉ hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi bấm bấm ngón tay mấy cái là phán như thánh phán.

 

Ông cười nhạo nói: "Tử vi liên quan đến số phận riêng của từng người thì ai cũng quan tâm nhưng cứ dấu dấu diếm diếm như kẻ ăn vụng. Còn có cái khác quan trọng hơn Tử vi liên quan đến vận mệnh đất nước thì hễ ai quan tâm đều bị coi là nhảm nhí. Thế mới khổ!"

  • Trần Thanh Vân

More...

Trích đoạn "Giữa chốn bụi hồng"

By Đặng Hoàng Thái

More...

Trích đoạn "Bên cầu dệt lụa"

By Đặng Hoàng Thái

More...

Chuyến xe Tây Ninh

By Đặng Hoàng Thái

More...

Cuộc kháng chiến trường kỳ

By Đặng Hoàng Thái

More...

Sách Ngữ văn 12 để lọt "cục sạn"?

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

Bộ sách giáo khoa Ngữ văn này được phép xuất bản năm 2008 dưới sự chủ biên của những giáo sư phó giáo sư tiến sĩ hàng đầu Việt Nam những bậc thầy trong vấn đề giảng dạy. 

Mô tả ảnh.

Mô tả ảnh.

Sách Ngữ văn 12 trang 45 (NXB Giáo Dục 2008)

Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập I (NXB Giáo Dục 2008) Tổng chủ biên là Giáo sư Phan Trọng Luận trong đó: Giáo sư Trần Đăng Suyền chủ biên phần Văn giáo sư Bùi Minh Toán chủ biên phần Tiếng Việt Giáo sư Lê A chủ biên phần Làm văn. Tại trang 45 trong phần Luyện tập bài Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt có đưa tên hai ca sĩ đương đại hát dòng nhạc thị trường vào để làm bài tập cho học sinh.

Bài tập đó như sau:

More...

Tuyển thơ văn thế kỷ XX” chỉ là chuyện… tầm phào

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

"Tuyển tập thơ Việt Nam" này chỉ là một tài liệu phục vụ cho giao lưu giới thiệu trong khuôn khổ Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài. Không hề có chuyện xuất bản một tuyển tập "Thơ Việt Nam thế kỷ 20" vì như vậy sẽ cần rất nhiều công phu nhất là cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng - Nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội nhà văn VN).

 

Mô tả ảnh.

Quyết định thành lập Hội đồng tuyển chọn

Thời gian gần đây nhà thơ Vũ Quần Phương (Trưởng ban "Tuyển tập thơ Việt Nam") liên tục phát biểu về một cuốn thơ mang tên "Thơ Việt Nam thế kỷ XX". Theo ông Vũ Quần Phương việc lựa chọn tuyển tập "Thơ Việt Nam thế kỷ XX" kia gồm: Tiêu chí đầu tiên là chọn thơ hay nên chúng tôi đã chọn được 200 nhà thơ chính thức có số phiếu quá bán (được hơn một nửa số thành viên Nhóm tuyển chọn đồng ý biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín). Ngoài ra còn chọn thêm 50 nhà thơ không có số phiếu quá bán để trong danh sách dự bị.

More...

"Thơ VN thế kỷ 20": Kẻ nói xuôi người nói ngược

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

Cuốn hợp tuyển đầu tiên về thơ ca VN thế kỷ 20 đang được Hội Nhà văn triển khai thực hiện. Nhưng trong khi Chủ tịch hội đồng biên soạn khẳng định đây là tập hợp thành tựu thi ca suốt 100 năm thì Ban chấp hành Hội lại nói nó chỉ là tài liệu phục vụ Hội nghị quảng bá văn học VN ra nước ngoài.

Ngày 30 và 31/7 Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam họp bàn về việc chuẩn bị cho sự ra mắt cuốn hợp tuyển thơ ca Việt Nam thế kỷ 20. Nhà thơ Vũ Quần Phương - người được chọn làm Chủ tịch Hội đồng biên soạn - cho biết: "Mục đích của kế hoạch này là tạo ra một tuyển tập nhìn lại thành tựu của một thế kỷ thơ ca. Việc đó trước sau gì cũng phải làm. Hội Nhà văn đã lùi công việc này lại đến nay là năm thứ 9 rồi. Hội đồng thơ được giao nhiệm vụ từ năm 2008. Đến nay Ban tuyển chọn mới thành lập gồm 4 nhà thơ: tôi Nguyễn Đức Mậu Trần Nhuận Minh Ngô Thế Oanh cùng 2 nhà phê bình nghiên cứu: Lưu Khánh Thơ Lý Hoài Thu".

More...

Trích đoạn "Tìm lại cuộc đời"

By Đặng Hoàng Thái

More...