Tập tành chụp ảnh nghệ thuật

By Đặng Hoàng Thái

Đ.H.T

 

More...

Đông Dương

By Đặng Hoàng Thái

Tôi không rõ hắn sinh ngày nào tháng nào chỉ biết hắn sinh ngay vào cái đận cha mẹ hắn cùng đồng đội bồng trống thoát đi từ Đồng Pan sang đất Campuchia để "bảo toàn lực lượng" trước trận càn Đông Dương đại quy mô của quân Mỹ - nguỵ cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1970. Có lẽ cũng vì duyên cớ này mà hắn được đặt tên là Đông Dương. Cha mẹ tôi với cha mẹ hắn cũng là chỗ bạn bè đồng đội nên khi gặp nhau hắn thường cắc cớ hỏi: "Đi đâu đó anh Tư?" (thứ của cha tôi) tôi cũng đâu chịu lép đốp liền: "Vòng vòng chơi được hông anh Út?" (thứ của cha hắn).

Từ khi giải phóng đến những năm 90 của thế kỷ trước gia đình tôi và gia đình hắn sống nhờ trong những căn phòng nhỏ của Ty Thông tin - Văn hoá sau này đổi thành Sở Văn hoá - Thông tin. Nhưng tôi chỉ biết Hồng Lê - em gái Đông Dương vì từ nhỏ hắn và thằng em út Cu Tèo được cha mẹ gởi về sống với Ngoại đâu ở mé Gia Bình xứ Trảng. Cha hắn là cựu Trưởng đoàn Cải lương Tây Ninh Nguyễn Thế Nghiệm dáng người nhỏ thó cằn cỗi nhưng khá vui tính giọng sang sảng. Mẹ hắn bà Thu Hồng từng là diễn viên múa của đoàn.

Cha mẹ cải lương vì thế chuyện hắn theo nghiệp diễn làm vương làm tướng dưới ánh đèn màu cũng là lẽ thường. Cu Tèo giờ lấy tên là Bình bị di chứng chất độc da cam từ cha mẹ có tật bàn tay đành chấp nhận làm kế toán cho đoàn. Ngoại trừ Hồng Lê là không "dính" được với nghề dù một dạo cũng thường xuyên lên Đài Truyền hình Tây Ninh ca sáu câu.

Hắn ca cũng chẳng ngọt ngào gì mấy giọng khàn khàn nhựa nhựa kiểu sinh ra chỉ để đóng kép lão như NSND Diệp Lang nên từ lúc hắn theo đoàn cùng lắm là "lên" tới kép nhì. Cũng có một lần hắn được thủ vai chính Lục Vân Tiên đàng hoàng trong trích đoạn Kiều Nguyệt Nga mà đoàn Tây Ninh mang đi dự giải Trần Hữu Trang. Tôi chỉ xem loáng thoáng nhưng sau này mỗi lần cà kê nhậu nhẹt nhắc chuyện Lục Vân Tiên hắn quê tôi lắm! Tôi cứ nhìn hắn rồi khà khà cười cười: "Cha nội số ông chết dí vai gian vai già và vai... dê! Đóng Lục Vân Tiên mà tôi cứ tưởng lầm là Trịnh Hâm".

Đùa vậy cũng có đôi lần hắn trổ cộc chửi đổng "mẹ họ" nhưng được cái là mau quên. Gặp nhau lại hỏi "Đi đâu đó anh Tư?".

More...

Đường hoa

By Đặng Hoàng Thái

Thầy tôi - một nhà báo già từng là PV báo Tuổi Trẻ Thanh Niên và uỷ viên Hội đồng biên tập Sài Gòn Tiếp Thị. Bây giờ tuổi đã gần 70 ông vẫn thích đi rày đây mai đó. Sau mỗi đận lang thang ông thường gởi cho chúng tôi xem ảnh những nơi mà ông đã đi qua...

Chiều 28 tết ông gởi cho chúng tôi ảnh đường hoa Nguyễn Huệ. Đẹp thật nhưng ngẫm lại buồn cho một đường hoa đã từng tồn tại ở Thị xã Tây Ninh suốt hàng chục năm trời đậm nét trên bến dưới thuyền. Tiếc nhưng biết làm sao...

Đường hoa Nguyễn Huệ - TP. HCM

Chợ Hoa Thị xã Tây Ninh - người xem nhiều hơn người mua vì mua một chậu hoa kiểng phải è cổ ra mà vác mấy trăm mét mới ra đến cổng. Chợ Hoa lại chẳng có hồn chẳng có chút gì gọi là nét riêng để gây ấn tượng 

Chẳng ai đến chụp ảnh để làm kỷ niệm như Chợ hoa Cầu Quan những năm trước

Cũng không còn cảnh trên bến dưới thuyền

Còn lại một đường hoa lạnh vắng dành cho những cặp tình nhân  

Đ.H.T

   

More...

Ý kiến:

By Đặng Hoàng Thái

Trước chợ Hoa sau pháo hoa...!?

Thị xã đang có kế hoạch đưa lễ hội mừng Đảng mừng Xuân bắn pháo hoa đêm Giao thừa về Sân Vận động Tây Ninh và tại khuôn viên Khu du lịch Long Điền Sơn.

More...

Di chỉ Gò Bà Đao 3.000 năm tuổi ở Bến Cầu

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Long từ những hiện vật như rìu đá đồ gốm ở di chỉ khảo cổ Gò Bà Đao có thể xác định được gần 3.000 năm trước người tiền sử thuộc thời kỳ Đồng Thau đã sống quần tụ ở khu vực này.
 
HTML clipboard

Theo người phụ trách khai quật Tiến sĩ Nguyễn Văn Long từ những hiện vật như rìu đá đồ gốm ở di chỉ khảo cổ Gò Bà Đao thuộc ấp Chánh xã An Thạnh huyện Bến Cầu có thể xác định được gần 3.000 năm trước người tiền sử thuộc thời kỳ Đồng Thau đã sống quần tụ ở khu vực này.

Ông Nguyễn Anh Dũng - Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh cho biết năm 2009 khi triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh "Điều tra xác định và đề xuất giải pháp bảo tồn phát huy các di tích khảo cổ học ở Tây Ninh" các nhà khảo cổ và cán bộ Bảo tàng tỉnh đã tổ chức nhiều đợt khảo sát điền đã và nghiên cứu các di tích trên địa bàn tỉnh. Từ đó xác định ở khu vực Bến Cầu nói riêng và Tây Ninh nói chung có rất nhiều di tích có giá trị lịch sử khoa học cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Khu vực khai quật di chỉ Gò Bà Đao

More...

Cậu tôi

By Đặng Hoàng Thái

Đám con cháu hay tin lắc đầu cười tủm tỉm. Tuổi đã 50 ba lần rước dâu chưa lần nào cậu sống với bà mợ nào trọn được mười năm. Má tôi thò chân xuống sàn gạch khẻ đẩy đung đưa võng: "Cậu mày giống hệt ông ngoại xấu người nhưng miệng dẽo đeo. Bởi dzậy sẩy bà này có bà khác liền. Mà cậu mày ở bên Mỹ làm gì như dân Việt Nam mình: hổng còn tình cũng còn nghĩa". Nói rồi bà vắt tay lên trán mắt khép hờ kẽo kẹt đưa võng lâu lâu lại thở dài. Hình như bà thương cho cái đường tình duyên lận đận của cậu tôi!?

More...

Thầm lặng những anh hùng

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboardĐã hơn 40 năm nhưng khi hồi tưởng lại những năm tháng là chiến sĩ Ban Giao Bưu Vận Trung ương Cục miền Nam đóng tại chiến khu Bắc Tây Ninh ông Phạm Thanh Dân vẫn còn nhớ được những câu thơ về những người chiến sĩ làm nhiệm vụ mở đường dẫn lối chuyển hàng khi ấy đại loại như: "Nực cười hai chữ giao thông/ Mang danh liên lạc trong lòng khó thương/ Hằng ngày đưa khách qua đường/ Vai mang cái bị giống phường ăn xin"... rồi ông cười khà đọc thêm rằng: "Giao liên thì phải cho nhanh/ Giúp Đảng lãnh đạo đấu tranh kịp thời".

More...

Đoàn cải lương Tây Ninh: Trở lại tuồng cổ

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboardĐêm 15.1 Đoàn Cải lương Tây Ninh đã tổ chức phúc khảo vở diễn mới "Sóng gió vương triều" kịch bản Song Châu đạo diễn Linh Châu. Đây là vở diễn được dàn dựng ngay sau khi đoàn giành hai huy vàng và bạc cá nhân ở Hội diễn sân khấu cải lương toàn quốc năm 2009 với vở diễn "Khu vườn của Thượng đế" (kịch bản và đạo diễn: NSƯT Đoàn Bá).

More...

Phim hay: "Kỷ niệm"

By Đặng Hoàng Thái

More...

"Thực tế" với sáng tạo của nhà văn

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

"Thực tế cuộc sống" đương nhiên là "thực tế". Nhưng "thực tế của trí tưởng tượng" "thực tế của những giấc mơ" "thực tế của sự thâm nhập thư tịch" "thực tế tâm linh"... cũng cần phải được coi là những yếu tố nằm trong khái niệm "thực tế" là "nguyên liệu" cho lao động sáng tác của nhà văn.

Không ai có thể hồ nghi: Balzac sẽ không thực hiện nổi một phần mong muốn trở thành "người thư ký trung thành của thời đại" bộ Tấn trò đời của ông sẽ không thể đua tranh nổi với các lưu trữ hộ tịch nếu ông không có một vốn sống thật đa dạng một sự hiểu biết thực tế thật phong phú đa dạng phong phú như thể ông đã sống vài cuộc đời chứ không phải một cuộc đời. Có điều đó là vì muốn hay không cũng phải tính đến: Balzac đã làm đủ nghề đi nhiều nơi lăn lộn trong rất nhiều không gian xã hội tiếp xúc với rất nhiều hạng người tóm lại ông có "đầy mình" những trải nghiệm với xã hội nước Pháp thời ông sống. Tất nhiên không phải người viết văn nào cũng may mắn được sống một đời sống như Balzac từng sống và không phải ai cũng là một tài năng cường tráng để có thể biến tất thảy những gì nhận được từ "thực tế" thành văn chương như ông.

Vì thế ở một mức phổ biến hơn để nói tới câu chuyện "thực tế" sự thâm nhập và hiểu biết "thực tế" đóng vai trò quan trọng đến thế nào đối với sáng tạo của nhà văn giữ vị trí ra sao trong sự thành công của tác phẩm người ta sẽ phải thu hẹp cái khái niệm "thực tế" ấy lại cụ thể hóa nó bằng những khu vực nhất định. Điều đó gần với cái gọi là "miền đất quen thuộc" hay "đề tài sở trường" của mỗi nhà văn. G. Flaubert viết tuyệt hay về cái quẩn quanh tủn mủn vừa đáng thương vừa nực cười trong cuộc đời của đám người tiểu tư sản ở tỉnh lẻ trong khi E. Zola tỏ ra cực kỳ am tường về giai cấp công nhân thợ thuyền những người làm thuê - cái giai cấp làm thành cặn đáy Paris - và những vấn đề của họ. Trong văn học của nước Nga thế kỷ XIX có thể nói F. Dostoievsky là nhà văn thông thuộc hơn ai hết về những không gian tầng hầm và tầng áp mái - không gian sinh tồn của những người cùng khổ và đặc biệt của những trí thức tuy nghèo về của cải nhưng không thiếu sự cao ngạo và luôn sục sôi lòng căm phẫn trước trật tự xã hội hiện hành. Ngược lại I. Turghenev là nhà văn hiểu biết rất tỉ mỉ và sâu sắc về giai cấp quý tộc Nga về tính phô trương và thói xa hoa trong sinh hoạt thường nhật của họ về nỗi ngậm ngùi của họ trước cái viễn cảnh của một sự sụp đổ không cách nào tránh khỏi.

Đó là một vài ví dụ lấy từ văn học thế giới. Còn ở văn học Việt Nam thì sao? Khó ai viết hay như Nam Cao về người nông dân và người trí thức tiểu tư sản. Khó ai viết cảm động hơn Nguyên Hồng về cảnh đời của những người dân nghèo ở thành thị. Khó ai qua được Vũ Trọng Phụng khi đi vào những thói tật những tệ nạn ở cái đô thị Việt Nam đang trên đà tư sản hóa. Viết về một lớp người cựu học với sự tài hoa trong các ngón ăn ngón chơi đầy vẻ tao nhã của họ những trang văn kiêu bạc của Nguyễn Tuân có thể là một mình một chiếu. Một đề tài lớn - đề tài chiến tranh - có thể khẳng định rằng cho đến nay thành công nhất ở đề tài này vẫn là những nhà văn từng mặc áo lính xông pha nơi chiến trường: Nguyễn Minh Châu Xuân Thiều Nguyễn Trọng Oánh Xuân Đức Khuất Quang Thụy Bảo Ninh...

Những ví dụ kể trên có cùng một điểm quy chiếu ấy là thành công của nhà văn bị điều kiện hóa bởi mức độ thâm nhập và sự hiểu biết của anh ta trong những vùng "thực tế" nhất định. Nhưng nếu chỉ là như vậy sẽ giải thích sao đây về trường hợp của Vũ Trọng Phụng một nhà văn xuất thân từ giới bình dân nghèo sinh hoạt rất điều độ mực thước nhưng khi ông viết về những chuyện cô đầu nhà thổ bài bạc hút xách thì cứ như thể là người cực kỳ lão luyện trong chốn ăn chơi trụy lạc? Nếu chỉ là như vậy sẽ lý giải như thế nào trước việc nhà văn quân đội Lê Lựu khâm phục nhà văn quân đội Nguyễn Minh Châu: cùng đi "thực tế" chiến trường một ông cứ hì hụi ghi chép (Lê Lựu) một ông có vẻ nhàn nhã dửng dưng (Nguyễn Minh Châu) nhưng đến lúc viết thì trang văn của ông nhàn nhã dửng dưng ngồn ngộn chi tiết sống động còn những chi tiết trong trang văn của ông hì hụi ghi chép thì cứ trơn chuồi chuội nhợt nhạt thiếu sinh khí? Các tác giả kể trên là những nhà văn có được "sự nhạy cảm trước thực tế" ít ra là sự nhạy cảm trong những vùng "thực tế" quen thuộc của họ. Nếu không có phẩm chất này nhà văn có thể là người sống trong "thực tế" là người quan sát và ghi nhận "thực tế" rất bền bỉ rất kỹ lưỡng nhưng cái nhìn của anh ta chỉ lướt trên bề mặt "thực tế" nó không khoan thủng được lớp vỏ ngoài để chạm đến cái lõi của "thực tế". Điều này có lẽ giải thích khá tốt cho sự thất bại trong việc "phản ảnh thực tế" của rất nhiều nhà văn mặc cho anh ta bám trụ lâu dài với "thực tế" và cũng không thiếu tinh thần nung nấu muốn viết tác phẩm để đời. Và đương nhiên khi đã thiếu "sự nhạy cảm trước thực tế" lại thâm nhập "thực tế" theo kiểu phong trào đi thành đội ngũ đi ít ngày đi theo chỉ thị - việc khá phổ biến trong đời sống văn học Việt Nam một thời - thì không khó để hiểu tại sao kết quả của những chuyến đi ấy phần lớn chỉ là những tác phẩm thuộc loại "người tốt việc tốt" mang phần xác (và cả phần hồn) nửa văn chương nửa báo chí và... chết non!

Thế nhưng khái niệm "thực tế" phải chăng chỉ để xác định một môi trường xã hội cụ thể nào đó mà nhà văn đã hoặc đang sống; môi trường xã hội ấy với những đặc điểm về chính trị - kinh tế - văn hóa của nó làm nền cho cuộc đời riêng của nhà văn đập vào sự cảm nhận của anh ta và chi phối cuộc sống của anh ta? Nói cách khác "thực tế" phải chăng chỉ bó gọn lại thành "thực tế cuộc sống" ngoài ra không là gì khác? Chỉ có thể nói rằng cái quan niệm coi là tương đương hai khái niệm "thực tế" và "thực tế cuộc sống" là một quan niệm rất phổ biến. Và chính là từ quan niệm như vậy mà ở nền văn học nhiều dân tộc trong nhiều giai đoạn (đôi khi rất dài) người ta luôn thủ trước tấm bảng chữ to "xa rời thực tế cuộc sống" để sẵn sàng quàng lên cổ những tác phẩm văn học nào lấy cảm hứng hoặc lấy "nguyên liệu" từ một "thực tế khác" khác với "thực tế cuộc sống". Cũng chẳng sao nếu sự đánh giá này không thường xuyên là một sự đánh giá giá trị của tác phẩm: "xa rời thực tế cuộc sống" nghĩa là... chẳng có chút giá trị gì hết! Xét đến cùng F. Kafka phản ánh "thực tế cuộc sống" chăng khi ông kể lại (cứ như thật) câu chuyện về một người đàn ông bỗng dưng hóa thành một con côn trùng (Hóa thân) hoặc khi ông dựng lên một tòa lâu đài luôn thấp thoáng trước mắt người song không ai có thể thâm nhập được (Lâu đài)? M. Bulgakov phản ánh "thực tế cuộc sống" chăng khi ông viết Nghệ nhân và Margarita nối liền thế giới La Mã cổ đại và thế giới hiện đại theo cơ chế bình thông nhau? M. Kundera lấy "thực tế cuộc sống" để viết Cuộc sống không ở nơi đây chăng khi trong tác phẩm của mình ông để cho những danh nhân thuộc các thời đại khác nhau liên tục chạm mặt nhau tranh luận với nhau nảy lửa? Có lẽ trên phương diện nhận thức cần phải nới rộng khái niệm "thực tế" để nó có thể bao quát đến tối đa sự trải nghiệm nhiều chiều của người sáng tác văn học. "Thực tế cuộc sống" đương nhiên là "thực tế". Nhưng "thực tế của trí tưởng tượng" "thực tế của những giấc mơ" "thực tế của sự thâm nhập thư tịch" "thực tế tâm linh"... cũng cần phải được coi là những yếu tố nằm trong khái niệm "thực tế" cần phải được coi là "nguyên liệu" cho lao động sáng tác của nhà văn ở chừng mực nó không hề kém quan trọng hơn so với "thực tế cuộc sống".

Không hề có ý định cổ súy cho một thứ "chủ nghĩa hiện thực không bờ bến" song người viết bài này vẫn cho rằng một nhận thức "đúng" và "mở" về khái niệm "thực tế" là điều rất cần cho sự đánh giá thẩm định tác phẩm văn chương hiện nay. Nếu không "đúng" chúng ta dễ trở thành người tung hô cho những cuốn sách chỉ hớt lớp váng của "thực tế cuộc sống". Nếu không "mở" chúng ta dễ bỏ sót những tác phẩm có giá trị - tôi muốn nói đến những tác phẩm được dựng lên từ những "thực tế khác" khác với "thực tế cuộc sống" mà ta hằng quan niệm - và như vậy thì văn chương sẽ trở nên đơn điệu biết bao!

(Theo Hoài Nam - Người Đại Biểu Nhân Dân)

More...