"Thực tế" với sáng tạo của nhà văn

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

"Thực tế cuộc sống" đương nhiên là "thực tế". Nhưng "thực tế của trí tưởng tượng" "thực tế của những giấc mơ" "thực tế của sự thâm nhập thư tịch" "thực tế tâm linh"... cũng cần phải được coi là những yếu tố nằm trong khái niệm "thực tế" là "nguyên liệu" cho lao động sáng tác của nhà văn.

Không ai có thể hồ nghi: Balzac sẽ không thực hiện nổi một phần mong muốn trở thành "người thư ký trung thành của thời đại" bộ Tấn trò đời của ông sẽ không thể đua tranh nổi với các lưu trữ hộ tịch nếu ông không có một vốn sống thật đa dạng một sự hiểu biết thực tế thật phong phú đa dạng phong phú như thể ông đã sống vài cuộc đời chứ không phải một cuộc đời. Có điều đó là vì muốn hay không cũng phải tính đến: Balzac đã làm đủ nghề đi nhiều nơi lăn lộn trong rất nhiều không gian xã hội tiếp xúc với rất nhiều hạng người tóm lại ông có "đầy mình" những trải nghiệm với xã hội nước Pháp thời ông sống. Tất nhiên không phải người viết văn nào cũng may mắn được sống một đời sống như Balzac từng sống và không phải ai cũng là một tài năng cường tráng để có thể biến tất thảy những gì nhận được từ "thực tế" thành văn chương như ông.

Vì thế ở một mức phổ biến hơn để nói tới câu chuyện "thực tế" sự thâm nhập và hiểu biết "thực tế" đóng vai trò quan trọng đến thế nào đối với sáng tạo của nhà văn giữ vị trí ra sao trong sự thành công của tác phẩm người ta sẽ phải thu hẹp cái khái niệm "thực tế" ấy lại cụ thể hóa nó bằng những khu vực nhất định. Điều đó gần với cái gọi là "miền đất quen thuộc" hay "đề tài sở trường" của mỗi nhà văn. G. Flaubert viết tuyệt hay về cái quẩn quanh tủn mủn vừa đáng thương vừa nực cười trong cuộc đời của đám người tiểu tư sản ở tỉnh lẻ trong khi E. Zola tỏ ra cực kỳ am tường về giai cấp công nhân thợ thuyền những người làm thuê - cái giai cấp làm thành cặn đáy Paris - và những vấn đề của họ. Trong văn học của nước Nga thế kỷ XIX có thể nói F. Dostoievsky là nhà văn thông thuộc hơn ai hết về những không gian tầng hầm và tầng áp mái - không gian sinh tồn của những người cùng khổ và đặc biệt của những trí thức tuy nghèo về của cải nhưng không thiếu sự cao ngạo và luôn sục sôi lòng căm phẫn trước trật tự xã hội hiện hành. Ngược lại I. Turghenev là nhà văn hiểu biết rất tỉ mỉ và sâu sắc về giai cấp quý tộc Nga về tính phô trương và thói xa hoa trong sinh hoạt thường nhật của họ về nỗi ngậm ngùi của họ trước cái viễn cảnh của một sự sụp đổ không cách nào tránh khỏi.

Đó là một vài ví dụ lấy từ văn học thế giới. Còn ở văn học Việt Nam thì sao? Khó ai viết hay như Nam Cao về người nông dân và người trí thức tiểu tư sản. Khó ai viết cảm động hơn Nguyên Hồng về cảnh đời của những người dân nghèo ở thành thị. Khó ai qua được Vũ Trọng Phụng khi đi vào những thói tật những tệ nạn ở cái đô thị Việt Nam đang trên đà tư sản hóa. Viết về một lớp người cựu học với sự tài hoa trong các ngón ăn ngón chơi đầy vẻ tao nhã của họ những trang văn kiêu bạc của Nguyễn Tuân có thể là một mình một chiếu. Một đề tài lớn - đề tài chiến tranh - có thể khẳng định rằng cho đến nay thành công nhất ở đề tài này vẫn là những nhà văn từng mặc áo lính xông pha nơi chiến trường: Nguyễn Minh Châu Xuân Thiều Nguyễn Trọng Oánh Xuân Đức Khuất Quang Thụy Bảo Ninh...

Những ví dụ kể trên có cùng một điểm quy chiếu ấy là thành công của nhà văn bị điều kiện hóa bởi mức độ thâm nhập và sự hiểu biết của anh ta trong những vùng "thực tế" nhất định. Nhưng nếu chỉ là như vậy sẽ giải thích sao đây về trường hợp của Vũ Trọng Phụng một nhà văn xuất thân từ giới bình dân nghèo sinh hoạt rất điều độ mực thước nhưng khi ông viết về những chuyện cô đầu nhà thổ bài bạc hút xách thì cứ như thể là người cực kỳ lão luyện trong chốn ăn chơi trụy lạc? Nếu chỉ là như vậy sẽ lý giải như thế nào trước việc nhà văn quân đội Lê Lựu khâm phục nhà văn quân đội Nguyễn Minh Châu: cùng đi "thực tế" chiến trường một ông cứ hì hụi ghi chép (Lê Lựu) một ông có vẻ nhàn nhã dửng dưng (Nguyễn Minh Châu) nhưng đến lúc viết thì trang văn của ông nhàn nhã dửng dưng ngồn ngộn chi tiết sống động còn những chi tiết trong trang văn của ông hì hụi ghi chép thì cứ trơn chuồi chuội nhợt nhạt thiếu sinh khí? Các tác giả kể trên là những nhà văn có được "sự nhạy cảm trước thực tế" ít ra là sự nhạy cảm trong những vùng "thực tế" quen thuộc của họ. Nếu không có phẩm chất này nhà văn có thể là người sống trong "thực tế" là người quan sát và ghi nhận "thực tế" rất bền bỉ rất kỹ lưỡng nhưng cái nhìn của anh ta chỉ lướt trên bề mặt "thực tế" nó không khoan thủng được lớp vỏ ngoài để chạm đến cái lõi của "thực tế". Điều này có lẽ giải thích khá tốt cho sự thất bại trong việc "phản ảnh thực tế" của rất nhiều nhà văn mặc cho anh ta bám trụ lâu dài với "thực tế" và cũng không thiếu tinh thần nung nấu muốn viết tác phẩm để đời. Và đương nhiên khi đã thiếu "sự nhạy cảm trước thực tế" lại thâm nhập "thực tế" theo kiểu phong trào đi thành đội ngũ đi ít ngày đi theo chỉ thị - việc khá phổ biến trong đời sống văn học Việt Nam một thời - thì không khó để hiểu tại sao kết quả của những chuyến đi ấy phần lớn chỉ là những tác phẩm thuộc loại "người tốt việc tốt" mang phần xác (và cả phần hồn) nửa văn chương nửa báo chí và... chết non!

Thế nhưng khái niệm "thực tế" phải chăng chỉ để xác định một môi trường xã hội cụ thể nào đó mà nhà văn đã hoặc đang sống; môi trường xã hội ấy với những đặc điểm về chính trị - kinh tế - văn hóa của nó làm nền cho cuộc đời riêng của nhà văn đập vào sự cảm nhận của anh ta và chi phối cuộc sống của anh ta? Nói cách khác "thực tế" phải chăng chỉ bó gọn lại thành "thực tế cuộc sống" ngoài ra không là gì khác? Chỉ có thể nói rằng cái quan niệm coi là tương đương hai khái niệm "thực tế" và "thực tế cuộc sống" là một quan niệm rất phổ biến. Và chính là từ quan niệm như vậy mà ở nền văn học nhiều dân tộc trong nhiều giai đoạn (đôi khi rất dài) người ta luôn thủ trước tấm bảng chữ to "xa rời thực tế cuộc sống" để sẵn sàng quàng lên cổ những tác phẩm văn học nào lấy cảm hứng hoặc lấy "nguyên liệu" từ một "thực tế khác" khác với "thực tế cuộc sống". Cũng chẳng sao nếu sự đánh giá này không thường xuyên là một sự đánh giá giá trị của tác phẩm: "xa rời thực tế cuộc sống" nghĩa là... chẳng có chút giá trị gì hết! Xét đến cùng F. Kafka phản ánh "thực tế cuộc sống" chăng khi ông kể lại (cứ như thật) câu chuyện về một người đàn ông bỗng dưng hóa thành một con côn trùng (Hóa thân) hoặc khi ông dựng lên một tòa lâu đài luôn thấp thoáng trước mắt người song không ai có thể thâm nhập được (Lâu đài)? M. Bulgakov phản ánh "thực tế cuộc sống" chăng khi ông viết Nghệ nhân và Margarita nối liền thế giới La Mã cổ đại và thế giới hiện đại theo cơ chế bình thông nhau? M. Kundera lấy "thực tế cuộc sống" để viết Cuộc sống không ở nơi đây chăng khi trong tác phẩm của mình ông để cho những danh nhân thuộc các thời đại khác nhau liên tục chạm mặt nhau tranh luận với nhau nảy lửa? Có lẽ trên phương diện nhận thức cần phải nới rộng khái niệm "thực tế" để nó có thể bao quát đến tối đa sự trải nghiệm nhiều chiều của người sáng tác văn học. "Thực tế cuộc sống" đương nhiên là "thực tế". Nhưng "thực tế của trí tưởng tượng" "thực tế của những giấc mơ" "thực tế của sự thâm nhập thư tịch" "thực tế tâm linh"... cũng cần phải được coi là những yếu tố nằm trong khái niệm "thực tế" cần phải được coi là "nguyên liệu" cho lao động sáng tác của nhà văn ở chừng mực nó không hề kém quan trọng hơn so với "thực tế cuộc sống".

Không hề có ý định cổ súy cho một thứ "chủ nghĩa hiện thực không bờ bến" song người viết bài này vẫn cho rằng một nhận thức "đúng" và "mở" về khái niệm "thực tế" là điều rất cần cho sự đánh giá thẩm định tác phẩm văn chương hiện nay. Nếu không "đúng" chúng ta dễ trở thành người tung hô cho những cuốn sách chỉ hớt lớp váng của "thực tế cuộc sống". Nếu không "mở" chúng ta dễ bỏ sót những tác phẩm có giá trị - tôi muốn nói đến những tác phẩm được dựng lên từ những "thực tế khác" khác với "thực tế cuộc sống" mà ta hằng quan niệm - và như vậy thì văn chương sẽ trở nên đơn điệu biết bao!

(Theo Hoài Nam - Người Đại Biểu Nhân Dân)

More...

Triển vọng tươi sáng cho các tờ báo địa phương

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

(TuanVietNam) - Ngành báo chí của Mỹ đang hứng chịu những tốn thất khá nặng nề song đối với các tờ báo nhỏ địa phương mức độ tổn hại dường như ít nghiêm trọng hơn.


Lợi thế báo địa phương

Blackshear Times của Georgia là một ví dụ. Tờ báo tuần trên phát hành tại một hạt 17.000 dân ở Jacksonville Fla. cách khu trung tâm gần nhất khoảng 120 Km. Ưu thế đó đã tạo điều kiện thuận lợi để Blackshear Times có thể duy trì được 3.500 khách đặt báo dài hạn và những khoản thu nhập ổn định trong bối cảnh báo chí đang bị tác động mạnh mẽ bởi suy thoái kinh tế.
Chủ báo Robert M. Williams Jr. nhấn mạnh: "CNN sẽ không xuất hiện ở thị trấn của tôi để đưa tin và cũng chẳng có nhiều blogger ở đây. Đầu tư vào báo chí địa phương vẫn sinh lợi bởi chúng tôi cung cấp thứ mà các bạn không thể tìm thấy ở nơi nào khác".

Sự khan hiếm phương tiện truyền thông khác trong các thành phố nhỏ và trung bình đã giúp hàng trăm tờ báo tránh bị tác động trước những cuộc khủng hoảng đã làm cho các tờ nhật báo ở thành phố lớn giảm quy mô và lợi nhuận do lượng phát hành và số lượng quảng cáo sụt giảm.

Ít cạnh tranh hơn đồng nghĩa với việc ấn phẩm và trang web của các tờ báo nhỏ hơn vẫn gây chú ý nếu độc giả muốn tìm hiểu sự việc đang diễn ra xung quanh nơi họ ở. Ngược lại những tờ báo lớn đưa nhiều tin tầm quốc gia và quốc tế.
Hơn nữa các báo lớn này có rất nhiều đối thủ đó là các trang web và các đài phát thanh truyền hình phát tin trước khi báo in được bán trên các sạp báo và giao đến từng nhà. Các trang web của các tờ báo lớn cũng đưa tin miễn phí một ngày trước các ấn phẩm in.

Có lẽ một điều quan trọng hơn là báo chí ở các thị trường nhỏ hơn vẫn không bị giành mất khoản thu nhập lớn từ tay Craigslist (một mạng lưới tập hợp các cộng đồng online đăng tải các quảng bá quảng cáo trên mạng) và những phương tiện quảng cáo trực tuyến khác vốn là nguyên nhân khiến nhiều tờ báo lớn phải đóng cửa.

Quảng cáo trên báo in (bao gồm đủ thể loại từ việc làm đến các loại ô tô) từng là một mỏ vàng của báo in cho đến khi Craigslist bắt đầu mở rộng dịch vụ quảng cáo trực tuyến miễn phí năm 1999. Hiện Craigslist chiếm lĩnh hầu hết các thị trường lớn và mỗi tháng tung ra khoảng 40 triệu mục quảng cáo.

Năm 2000 dịch vụ quảng cáo đã giúp thu về gần 20 tỷ USD tương đương 40% thu nhập của ngành báo chí Mỹ. Đến năm 2008 quảng cáo trên báo in tại nước này giảm xuống còn gần 10 tỷ USD tương đương ¼ thu nhập ngành này. (Thông thường tiền thu được từ dịch vụ giao báo và bán báo lẻ chiếm khoảng 20 đến 30% thu nhập các tờ báo).

Trong thời đại máy bay trở thành phương tiện giao thông phổ thông đi nữa người ta
vẫn đọc báo in vì những sự việc gần gũi và phút thanh bình thế này

Báo càng lớn doanh thu càng giảm

Có vẻ như hình thức quảng cáo mang lại lợi nhuận cao cho các tờ báo in thực sự có thể "bốc hơi" trong vài năm tới nhà phân tích truyền thông Mike Simonton của Fitch Ratings nói. Ông còn dự đoán sẽ còn nhiều khó khăn hơn ở phía trước.

Dựa trên kết quả một nghiên cứu tài chính do Hiệp hội báo chí nội địa Mỹ (Inland Press Association) thực hiện tại 125 tờ báo khác nhau của nước này những tờ báo nhỏ hơn đang thách thức xu hướng tiêu cực này. Nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập từ quảng cáo trên các nhật báo với tổng số phát hành ít hơn 15.000 tờ tăng trung bình 23% trong 5 năm tính đến năm 2008.

Như vậy tổng thu nhập từ quảng cáo ở những báo với lượng phát hành nói trên tăng trung bình 2 5% trong cùng khung thời gian. Trong khi đó thu nhập từ quảng cáo tại các nhật báo có lượng phát hành lớn hơn 80.000 tờ giảm 25%. Nhận định về thực trạng này Ray Carlsen Giám đốc điều hành của Inland Press nói rằng số phát hành càng lớn doanh thu càng giảm.

Một ưu thế nữa là những tờ báo nhỏ hơn cũng tránh được tình trạng phải cắt giảm lượng lớn việc làm số việc làm trong ngành công nghiệp này đã giảm 100.000 từ năm 2005. Khảo sát của Inland Press cho thấy những báo hàng ngày có lượng phát hành ít hơn 50.000 bản chi nhiều cho việc quản lý phòng tin năm 2008 hơn so với năm 2004.
Tuy các tờ nhỏ tránh được một cách đáng kể tác động của Internet trong lĩnh vực quảng cáo và phát hành thì họ cũng không "miễn dịch" trước tình cảnh khó khăn của cuộc đại suy thoái dài nhất kể từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ II.

Theo một nghiên cứu liên quan gần 1/5 doanh thu chung đã "bốc hơi trong quý đầu năm 2009 so với cùng kỳ năm ngoái. "Thật sai lầm khi thừa nhận rằng có một loại bong bong trên thị trường này" ông Chrís Doyle - Chủ tịch kiêm chủ báo Tin tức hàng ngày Naples một tờ báo ở miền Tây Nam Florida với lượng phát hành trung bình khoảng 64.000 tờ/ngày trong suốt sáu tháng (tính đến cuối tháng Ba) nhận xét. "Chúng ta đang trở nên đói kém hơn tranh cãi nhiều hơn và hiếu chiến hơn bao giờ hết".

Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế đang tác động rất rõ rệt tới Florida tờ Tin tức hàng ngày và bốn tờ báo địa phương "hàng xóm" - đều do công ty E.W. Scripps Co. sở hữu đã cắt giảm gần 30% nhân viên. Tuy vậy những tờ báo lớn đang đối mặt nhiều sức ép hơn. Điển hình là mỗi bang Denver và Seattle đã phải đóng cửa hai tờ báo in hàng ngày trong năm 2009 trong khi hai tòa báo tại Detroit cắt số lần giao báo xuống còn ba ngày/tuần.

Trước tình cảnh này nhiều tờ báo lớn có thể lựa chọn cách tiếp cận được cho là "cực kỳ địa phương" hình thức đang được những tờ báo nhỏ rất ưa chuộng. Thay vì "bôi đầy" trang báo bởi thông tin có sẵn trên Internet các tờ báo nhỏ tập trung vào các chủ đề chính trị kinh doanh thể thao hình sự các vấn đề cộng đồng xảy ra trong một khu vực địa lý hẹp một hạt một thị trấn hoặc thậm chí trong là một số khu nhà hàng xóm.

John D. Montgomery Jr. biên tập viên kiêm chủ báo The Purcell Register tại Oklahoma nói: "Chúng tôi đưa tin chi tiết về mọi sự kiện xảy trong khu vực của chúng tôi". Đây là tờ tuần báo đã đạt mức phát hành khoảng 5.000 tờ bằng việc tập trung đưa tin về Purcell và bốn thị trấn lân cận với tổng số dân khoảng 17.000 người.

Với lượng phát hành khoảng 73.000 tờ/ngày The Chattanooga Times Free Press tại Tennessee đã dành ra một vài trang đưa những sự kiện xảy ra trong vùng và toàn bộ thông tin quốc gia qua một lăng kính cộng đồng. Tom Griscom Tổng biên tập tờ này nói: "Nếu các bạn thực sự muốn đọc về cuộc chiến Irắc hàng ngày bạn sẽ không mua báo của chúng tôi mà sẽ mua The New York Times".

Báo địa phương đưa tin gần gũi và ít đối thủ hơn

Triển vọng tươi sáng cho những tờ báo nhỏ

Chi phí cho xuất bản và giao báo là khoản chi lớn nhất của các tờ báo do đó nhiều tờ báo đang cân nhắc có nên giảm số lượng ấn bản vào những ngày thường không thu hút được nhiều quảng cáo như thứ Hai đến thứ Tư hay không. Jeff Ackerman Chủ báo tờ The Union - với lượng phát hành 16.000 tờ tại Grass Valley Calif cho rằng những tờ báo nhỏ cũng tìm cách làm thỏa mãn mối quan tâm của độc giả và rằng một số tờ báo đang tìm cách phát triển mối quan hệ với cộng đồng địa phương mà họ đưa tin.

Hầu hết các báo địa phương do tư nhân kiểm soát hoặc do gia đình sở hữu qua nhiều thế hệ. Điều đó có nghĩa là họ không chịu nhiều áp lực phải tăng lợi nhuận trong khi giảm giá đăng quảng cáo. Điều này cũng có nghĩa rằng họ không phải công khai tài chính như các công ty thương mại sở hữu phần lớn các tờ báo lớn.

Thường thì các tờ báo nhỏ ít khi lâm vào cảnh nợ nần. Với những khoản nợ khổng lồ chủ một số tờ báo lớn như Los Angeles Times Chicago Tribune Philadelphia Inquirer và Star Tribune của Minneapolis đã phải ra tòa án giải quyết các vụ phá sản để sau đó tìm cách tái tổ chức tài chính của mình.

Năm ngoái doanh thu quảng cáo giảm 4% tại hơn 1.000 tờ báo địa phương. Hiệp hội báo chí Mỹ cho biết trong ngành báo chí nói chung quảng cáo từ báo chí sụt giảm 17%. Năm nay doanh thu từ quảng cáo trên các báo địa phương trong quý I thấp hơn gần 19% so với quý I năm ngoái trong khi tổng số tiền thu được trong cả ngành này giảm 28%.

Khi các trang web đã xuất hiện trong mọi gia đình và trở thành công cụ không thể thiếu thì ngày càng nhiều độc giả bắt đầu vào những trang web tập trung cùng một vấn đề do các tờ báo nhỏ đưa tin. Những dịch vụ quảng cáo như Craigslist cũng có thể trở nên thông dụng ở nhiều khu vực hẻo lánh tại Mỹ. Craigslist đã triển khai dịch vụ tại hơn 325 thành phố của Mỹ cung cấp các chương trình quảng cáo miễn phí tại hầu hết các thành phố này và đón chào những lời đề nghị từ những khu vực mà họ đang muốn mở rộng.

Richard Connor chủ báo The Times Leader tại Wilkes-Barre Pa. (tờ báo tuần với số phát hành khoảng 36.000 tờ) vừa thực hiện một cuộc tranh giành với Craigslist ngay trên thị trường của ông. Thu nhập từ quảng cáo trên báo của Connor giảm khoảng 5% trong quý I nhưng chỉ được cải thiện khiêm tốn trong quý II. Ông cho rằng doanh thu sẽ vẫn là vấn đề đáng lo ngại trong vài tháng tới.

Thế nhưng Connor quả quyết rằng vẫn có một triển vọng tươi sáng cho những tờ báo nhỏ. Hồi tháng Sáu ông vừa mua lại ba tờ nhật báo tại Maine. Ông giãi bày: "Chúng tôi vẫn tin rằng các báo địa phương có những độc giả của riêng mình và chúng tôi sẽ không lùi bước".

  • Chu Linh (Theo AP)

More...

Mùa xá tội vong nhân người trần lại... "chia chác"

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

(TuanVietNam) - Không ít người nhầm lẫn cho rằng "xá tội vong nhân" chỉ bằng việc cúng thật nhiều vàng mã tiền giả cho người đã khuất.

 

Mùa xá tội trở thành... mùa "chia chác" lợi nhuận

Nguyễn Du từng nói đến các nạn nhân chết đói chết trận và chết với nhiều hình thức oan khuất khác bằng một câu khái quát: "Buổi chiến trận mạng người như rác" (Văn chiêu hồn).

Với những khủng hoảng nhân đạo nhân văn ấy rất nhiều vong linh không có được bàn một thờ trong không gian ấm cúng của gia đình. Nhưng với triết lý "thương người như thể thương thân" từ rất lâu đời trong tâm thức người Việt luôn hiện diện một "bàn thờ" để nhớ thương đến họ. Hàng năm "bàn thờ" ấy được thiết lập trong mùa Vu Lan và người Việt luôn dành sự trân trọng để hướng đến điều lành bằng tâm xá tội.

Mùa Vu Lan mang ý nghĩa báo đáp ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và xá tội cho những linh hồn oan khuất không nơi nương tựa. Đó là niềm tin và nếp sống đạo của dân tộc mà đa số người Việt còn giữ gìn được trước làn sóng vị kỷ thực dụng đang xô đẩy trong từng ngõ ngách đời sống.

Nhưng hiện nay không ít người nhầm lẫn cho rằng "xá tội vong nhân" chỉ bằng việc cúng thật nhiều vàng mã tiền giả cho người đã khuất.

"Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào?"

Nguy hiểm hơn cả chính là sự tấn công không thương tiếc từ bên trong động cơ về quyền lợi rằng người đã khuất luôn đòi hỏi nhiều hơn những nhu cầu vật chất khi họ từng phải sống trong cảnh lang thang đói khổ.

Vì thế không ít người đã nghĩ ngay đến việc làm sao cho người chết có được sự hưởng thụ vật chất nhiều hơn mà ít quan tâm đến lòng chân thành cầu nguyện cho những vong hồn được sống trong tình thương ấm áp và sự nhớ tưởng của đồng loại.

Không ít người đã "hiện thực hoá" cảnh sống của người đã khuất bằng cách cấp thật nhiều "tiền vàng" "đô-la" "máy bay" "xe hơi" và cả những "người giúp việc" cho họ với mong muốn họ sẽ phù hộ cho mình phát quan phát tài phát lộc.

Việc làm ấy vô tình trở thành sự "chia chác" lợi nhuận giữa kẻ còn người mất một cách đầy tham lam và vị kỷ từ đó thói hợm hĩnh rởm đời hình thành qua những hình thức có vẻ như "giàu bản sắc".

Sự phá sản niềm tin

Vào những năm 1950 của thế kỷ trước Hoà thượng Thích Tố Liên từng nói: "Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu các ngài tìm thấy bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu".

Vì sao những lợi ích vật dục ngày càng biến tướng vào trong những giá trị tâm linh tốt đẹp đó của dân tộc? Vì họ đã hiểu sai về hành vi bố thí; họ nghĩ rằng sự phù trợ của người đã khuất có thể làm cho họ nhanh chóng được đổi đời. Và những người có quyền thế hơn ai hết càng ra sức làm to đẹp mồ mả từ đường của dòng họ mình.

Sống theo luật nhân quả là lối sống lành mạnh không lệ thuộc vào sự ban phúc giáng họa viển vông. Và một đời sống tốt đẹp hiền thiện chỉ được nhìn nhận bằng những thái độ ứng xử phù hợp với các giá trị khác nhau trong xã hội.

Bởi dù ở hoàn cảnh sống nào con người đều cần đến tình thương sự sẻ chia và lòng trắc ẩn ở đó vật chất có thể đem lại một số giá trị nhưng vĩnh viễn không thể thay thế được những giá trị tâm linh tinh thần.

Sự phá sản niềm tin về nguồn gốc tổ tiên bằng liên hệ tiền bạc và mối tương quan nhân quả giữa kẻ còn người mất bị xem thường minh chứng cho một khoảng trống văn hoá ứng xử không thể lấp đầy khi người ta lấy sự ồn ào tìm kiếm lợi nhuận của chính mình để tô điểm cho nơi chốn của người đã khuất trở nên những "ngôi nhà" bạc tỉ hay những cuộc lễ đầy tốn kém nhằm khuếch trương thanh thế hơn là sự tỏ lòng hiếu đễ.

Tài sản do mồ hôi nước mắt của con người tạo ra đã trở nên quá hoang phí cho những "mục tiêu" phát quan phát tài phát lộc kiểu này. Thay vì nêu cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc người ta biến tâm linh thành mảnh đất "bảo trợ" cho những tham vọng ích kỷ của riêng mình riêng dòng họ mình.

Tâm tha thứ và lòng hướng thiện

Ý nghĩa của mùa Vu Lan là người chưa sống hiếu thảo thì trở nên hiếu thảo người đầy đọa được tự do người đói khổ được no ấm người có tội được tha thứ người oan ức được giải oan...

Và chiều sâu của những ý nghĩa ấy là tâm tha thứ và lòng hướng thiện. Dân tộc ta lúc đói no khi chiến tranh hay hòa bình đều ý thức về việc ứng xử nhân nghĩa vị tha độ lượng. Vì những trải nghiệm sống luôn cho chúng ta nhận thức được rằng hận thù luôn là những nguồn bất hòa trực tiếp tạo ra sự đau khổ về thể xác và tinh thần.

Nếu như mỗi người đều hướng đến điều thiện đừng sống vì sự ích kỷ riêng của bản thân thì những giá trị tốt đẹp đó luôn hiện diện trong mọi ứng xử xã hội.

Tâm thức và linh hồn tổ tiên sẽ trở về đoàn tụ trong lễ mọn tâm thành
nên rất cần mỗi người thiết lập một bàn thờ như thế.

Người Việt đã tô đậm tâm thức hướng thiện ấy bằng quan điểm "xá tội". Xá tội cho người là bảo vệ sự bình yên cho mình. Bởi từ xưa đến nay cảnh thiếu thốn loạn lạc đều do sự bất công bằng và thiếu liêm khiết gây ra.

Khao khát tự do là sự buông bỏ hận thù và những hành vi tội lỗi. Khi tâm thức ấy giữa kẻ còn người mất tương ứng với nhau thì cánh cửa tự do giữa âm gian và trần thế mở ra không cần phải đợi bất cứ "phán quan" nào xét hỏi. Một vị quan tham một người sống bất nhân bất nghĩa không tin nhân quả làm sao có thể đứng ra làm chủ cho những cuộc lễ với ý nghĩa tha thứ và thanh tẩy tâm hồn.

Tâm thức và linh hồn tổ tiên sẽ trở về đoàn tụ trong lễ mọn tâm thành nên rất cần mỗi người thiết lập một bàn thờ như thế. Và chỉ có tâm thành hướng thiện lòng vị tha bao dung mới có thể sưởi ấm các linh hồn dân tộc. Ngày rằm tháng bảy từ bao đời nay đã trở thành ngày lễ trọng của đa số người Việt vì ngày lễ ấy đã đang và sẽ giữ vững niềm tin cho dân tộc về một đạo lý tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn".

Thích Thanh Thắng

More...

Đại địa mạch quốc gia

By Đặng Hoàng Thái

HTML clipboard

Những tìm hiểu của KTS Trần Thanh Vân về vấn đề đại địa mạch quốc gia. 

 

Chuyện 700 năm trước

Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288 có hai người "phạm lỗi" với Triều đình nhà Trần nhưng đều đã lập nên chiến công lớn góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài nhưng ăn nói thì quá mạnh bạo mà sinh hoạt thì hơi phóng túng nên bị nhà Vua tước hết quan chức bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.

Nhưng cũng tại nơi đây Trần Khánh Dư được phục chức và đã trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đã chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.

Võ đã giỏi văn cũng hay sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Hưng Đaọ ông viết như sau:

Người giỏi võ cầm quân thì không cần bày trận
Người giỏi bày trận thì không cần đánh
Người giỏi đánh thì không thua
Người khéo thua thì không chết

Sách cũ cũng kể rằng Trần Quốc Tảng là một người có tài đặc biệt về quân sự nhưng vì lúc nhỏ luôn ở bên cạnh ông nội là Trần Liễu nên Quốc Tảng từng có biểu hiện muốn cướp ngôi vua từ trong tay giòng thứ để giành ngôi cho cha mình là dòng trưởng khiến Trần Hưng Đạo giận nên đã "đẩy" con trai đi trấn thủ tận Cửa Suốt là một nơi ở rất xa Triều đình để tránh hậu hoạ.

Nhưng cũng tại nơi biên cương Tổ quốc này Hưng Nhượng Vương đã lập nên kỳ tích trong trận thắng Bạch Đằng Giang năm 1288 khiến cho sau khi ngài qua đời năm 1313 nhân dân đồn rằng Đức Ông Trần Quốc Tảng hiện về nhắc nhở nên đã xây Đền thờ Ngài cùng nhiều tướng lĩnh ở ngay trên đỉnh núi nhìn ra Bái Tử Long.

Ngày nay ngôi Đền Cửa Ông toạ lạc trên núi cao không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long khiến cho hậu thế có nhiều người thắc mắc rằng có thật là hai vị tướng danh tiếng đó do vì có tội nên bị điều ra tận nơi biên cương ấy hay phải chăng đây cũng là một trong những "bí truyền thư" mà Đức Thánh Trần đã lưu lại để dậy bảo cho chúng ta?

Đền Cửa Ông không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long

Khi bí mật không còn là bí mật

Cách đây gần 10 năm trên mạng thông tin quốc tế có một tấm bản đồ thật thú vị: Hình một con rồng rất đẹp mà đầu thì ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn ( đỉnh Everest cao 8.888m nóc nhà của thế giới) lưng uốn theo hướng Tây Bắc Đông Nam của dãy núi cao thấp dần và đuôi xoè ra ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam sau đó đi xuống vùng Vịnh Bắc Bộ và đã kết thúc ở vùng đại dương sâu nhất thế giới (Vịnh Mindanao ở Philippines sâu 10.800m).

Đó là tấm sơ đồ sơn thuỷ ở phạm vi vĩ mô tầm thế giới. Thật kỳ diệu các triền núi đó không thẳng băng mà uốn lượn như hình con rồng tạo ra mạch núi và mạch nước tụ lại rồi lan tỏa ở trên đồng bằng Bắc Bộ nước ta.

Sơ đồ đại địa mạch

Thế mới biết tại sao vùng đất này luôn luôn bị người ngoài thèm khát và dòm ngó. Và thế mới biết sự uyên bác kỳ tài của Thiền sư Vạn Hạnh và Vua Lý Thái Tổ đã quyết rời bỏ Hoa Lư để trở về vùng đất Thăng Long và triệt phá được thiên la địa võng mà Cao Biền đã trấn yểm trên thành Đại La cũ 200 năm trước.

Cho đến hôm nay tất cả những người có chút hiểu biết về phong thủy và lý thuyết về địa mạch thì đã hiểu rằng tất cả mọi bí mật xa xưa về đường kinh mạch về huyệt đạo linh thiêng mà chỉ có các thầy pháp cao tay mới nắm giữ được thì nay đã bị phơi bày ra tất cả.

Cái chính là "thiên hạ" thì biết cả nhưng những người trong cuộc có ý thức được vấn đề và có những giải pháp mạnh để làm chủ các lợi thế đó hay không?

Nhìn vào sơ đồ "vi địa mạch"

Trở lại với địa hình núi sông trên miền Bắc nước ta thì có 8 dãy núi vòng cung tạo thành hình rẻ quạt là dãy Đông Triều dãy Ngân Sơn dãy Bắc Sơn dãy Tam Đảo dãy Sông Gâm dãy Hoàng Liên Sơn dãy Sông Đà và dãy Hoà Bình trong đó Hoàng Liên Sơn nối từ Hy Mã Lạp Sơn về có đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương (3143m).

Hướng đi của các dãy núi đều hình thành các con sông như sông Hồng sông Chảy sông Lô sông Đà sông Đuống sông Cầu...

Thế nhưng các dãy núi chỉ "chầu" nên đều đã dừng lại từ xa còn các con sông thì đã "tụ" lại ở Việt Trì và nối thông với nhau và tỏa ra ở chính vùng Thăng Long. Kỳ diệu hơn nữa là ở ngay trên đất Thăng Long đã "mọc" lên ba ngọn núi khác: đó là cụm núi Ba Vì linh thiêng đầy huyền thoại. Đỉnh núi này nhìn theo đường chim bay thì chỉ cách Hồ Tây chừng 25Km.
Nhờ khoảng cách không quá xa nên khi thuyền của vua Lý Thái Tổ đi từ sông Hồng qua sông Tô Lịch vừa rẽ vào Hồ Dâm Đàm từ làng Hồ Khẩu mùa xuân năm 1010 nhà vua có thể nhìn thấy rồng cuộn sóng bay lên vừa nhìn thấy đỉnh Ba Vì nên cái tên Thăng Long và tứ văn "Đắc Long bàn Hổ cứ chi thế tiện núi sông hướng bôí chi nghi" mới xuất hiện trong bản Thiên đô chiếu bất hủ.

Ngày nay từ trên bản đồ vệ tinh ta có thể dễ dàng tìm thấy đỉnh cao 1226m nơi toạ lạc Đền Thượng thờ Tản Viên Sơn Thánh từ đó có một đường kinh mạch đi theo hướng chính Đông qua khu vực Đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị tiếp giáp với Hồ Tây ra đến tận Cảng Vân Đồn và Vịnh biển Bái Tử Long ở đó đã có đền Cửa Ông đầy linh thiêng mà nhân dân và hải quân ta hằng tôn thờ suốt 7 thế kỷ qua. Cảng Cửa Suốt của Đức Ông Trần Quốc Tảng xưa đã và sẽ mãi mãi là một quân cảng quan trọng nơi Bờ Đông của Tổ quốc.

Cũng trên bản đồ vệ tinh nếu nối một đường theo hướng Đông Bắc-Tây Nam mà mọi người quen gọi là Trục Thần Lộ đi từ đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị lên đến thành Cổ Loa- Kinh đô 2300 năm trước của vua An Dương Vương và cũng là Kinh đô hơn 1000 năm trước của vua Ngô Quyền trên trục đó ta sẽ gặp phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của Đại tướng Lý Thường Kiệt và Ngã ba sông Thiên Đức nơi Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lập đại bản doanh chỉ huy đánh quân Nguyên Mông năm 1284 và năm 1288.

Kỳ lạ thay đường chéo này đi tiếp rồi đi tiếp nữa sẽ đến Đồng Đăng cửa ải phía Bắc của Tổ quốc. Trong kinh dịch hướng Đông Bắc là hướng Ngũ quỷ lộc có nhiều mà hoạ cũng lắm vậy nên chăng phải có đôi mắt tinh anh của Đức Thánh Trần chấn ngữ cửa aỉ này ?

Những người có chút tính hiếu kỳ không thể không kinh ngạc khi phát hiện ra trục kinh mạch nằm ngang ở 21 độ vĩ bắc 3 28 từ đỉnh Ba Vì và trục Thần Lộ noí trên lại gặp nhau ở chính vùng nước cạnh Phủ Tây Hồ mà mọi người vẫn thành kính gọi là huyệt đạo quốc gia.

Tại sao có cái tên đó? Tại vì nơi đó vẫn sủi bọt mỗi khi mực nước sông Hồng dâng cao như thể hồ và sông là cái bình thông nhau. Nhiều người vẫn còn nhớ vào chiều thu nắng đẹp ngày 11/9/1955 người ta đã chứng kiến chính nơi đó đã có cột nước bất chợt phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền gỗ khiến 4 người bị thiệt mạng.

Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thế Hùng ở Viện Vật lý nghe mô tả lại hiện tượng đó thì đoán rằng chắc có kẻ nào đó đã chui xuống đáy hồ sờ soạng khiến mạch nước có áp xuất lớn bỗng bật lên như khi người ta mở nút chai rượu champagne?

Cảng Vân Đồn

Am Mỵ Châu thờ ai?

Lúc sinh thời giáo sư sử học Trần Quốc Vượng rất hay được mời đi nói chuyện ở nơi này nơi khác. Với giọng nói đầy tự tin giàu hình ảnh và hơi ngang ngang giáo sư Vượng có cách truyền đạt ý tưởng rất thuyết phục khiến cho người nghe chưa tin lắm mà vẫn phải tin đặc biệt với người không theo học ngành sử hiểu biết sử liệu rất ít mà cũng trở thành rất "am hiểu" về lịch sử. Xin kể đôi điều câu chuyện ông giải thích về am Mỵ Châu ở thành Cổ Loa như sau.

Trong một dịp ngày 8 tháng 3 chúng tôi được nghe một bài giảng của giáo sư Trần Quốc Vượng về tầm quan trọng của Cổ Loa Thành và am thờ nàng Công Chúa Mỵ Châu đối với Thủ đô của chúng ta.

Giọng đầy vẻ bí mật giáo sư Vượng hỏi:

-Các cô có hiểu tại sao hơn 2000 năm qua nhân dân ta kể từ vua chúa đến thường dân đều thành kính thờ một người con gái cụt đầu có tên là Công Chúa Mỵ Châu trong một cái am nho nhỏ ở Đền Cổ Loa hay không?

- Dạ không

Đó chính là ta thờ Người Mẹ Tổ Quốc của chúng ta đó. Chuyện tình duyên của Mỵ Châu Trọng Thuỷ là chuyện bịa đặt nhưng chuyện dân tộc ta vì quá nhân hậu và thiếu cảnh giác nên trót đặt trái tim lên đầu để Triệu Đà cướp mất nước là có thật. Đạo gốc của dân tộc ta là Đạo Mẫu. Bản chất người mẹ là bản chất nhân hậu và dễ bị lừa.

Xưa kia dân tộc ta đã từng bị lừa hiện nay cũng đang bị lừa và có thể ta còn bị lừa nữa bởi vậy nàng Công Chúa Mỵ Châu cụt đầu là hiện thân của Người mẹ Tổ quốc đã và đang đau khổ nhắc ta phải luôn cảnh giác."

- Vậy câu chuyện nỏ thần là có thật hay không?

- Không! Ta có một bí mật quốc gia quý hơn nỏ thần nhiều nhưng không ai ăn cắp được. Từ 2000 năm trước bí mật đó đã không còn là bí mật nữa rồi nhưng kẻ thù đã từng ra sức phá. Hiện nay chúng cũng đang phá bằng khẩu hiệu "bài đế phản phong" để ta tự phá ta để ta quên đi ta đang có báu vật trong tay.

- Vậy làm cách nào để khắc phục?

- Thiên cơ bất khả lộ. À có cô nào thích xem tử vi không?

- Có ạ có ạ!

- Tốt tôi sẽ lập lá số cho từng người và sẽ có lời khuyên riêng từng người.

 

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng rất giỏi khoa tử vi ông chỉ hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi bấm bấm ngón tay mấy cái là phán như thánh phán.

 

Ông cười nhạo nói: "Tử vi liên quan đến số phận riêng của từng người thì ai cũng quan tâm nhưng cứ dấu dấu diếm diếm như kẻ ăn vụng. Còn có cái khác quan trọng hơn Tử vi liên quan đến vận mệnh đất nước thì hễ ai quan tâm đều bị coi là nhảm nhí. Thế mới khổ!"

  • Trần Thanh Vân

More...