NGƯỜI- LÍNH- GIÀ ĐẶNG VĂN THƯỢNG

Tôi không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với ông. Khi tôi chập chững bước vào nghề báo ông rời Tây Ninh đã hơn 10 năm sắp sửa kết thúc những ngày rong ruổi khắp các tỉnh miền Tây thực hiện chương trình khai thác vùng Đồng Tháp Mười thoát lũ ra biển Tây của chính phủ. Trong ký ức tôi chỉ nhớ ông khá cao người cánh tay phải bị tật do những vết thương thời chiến tranh.
Nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh đại tá Đặng Văn Thượng bìa phải và cố Thủ tướng Phạm Hùng giữa . Ảnh: Đ.H.T chụp lại.
Phải dò hỏi mãi tôi mới tìm được ngôi nhà nhỏ nằm lặng lẽ ở trong một hương lộ thuộc quận Bình Tân TP. HCM. Nghe tôi ở Tây Ninh xuống đại tá Đặng Văn Thượng – nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh - chống gậy chậm rãi bước từng bước một ra đón. Tôi giật mình chỉ mới năm ngoái tại Đại hội Đảng bộ tỉnh trông ông vẫn còn rất khoẻ. Dường như hiểu được sự ngạc nhiên của tôi ông cười: “Mảnh đạn nằm trong đầu gối mấy chục năm chẳng hề hất gì. Già tự dưng nó hành bác phải đi mổ lấy ra. May mà y học bây giờ tiên tiến nên bác vẫn còn đi được. Có điều hơi yếu nên phải chống gậy thế này đây. Mà Tây Ninh lúc này có gì mới không cháu?”.
80 tuổi tôi cứ tưởng người-lính-già Sáu Thượng đã có thể xếp mọi âu lo trăn trở về cuộc đời về thế sự. Ông chặt lưỡi: “Tây Ninh mình phải tiến nhanh tiến mạnh mới có thể theo kịp các tỉnh thành trong khu vực”.
@ VỊ CHÍNH UỶ TRÊN ĐẠI CÔNG TRƯỜNG THUỶ LỢI LÒNG HỒ DẦU TIẾNG: 

Tháng 6.1975 đang là Chính uỷ của Trường quân chính Miền (nay là Trường Sĩ quan lục quân II) đại tá Đặng Văn Thượng nhận lệnh chuyển về Tỉnh đội Tây Ninh thay thế ông Đặng Văn Lý (Mười Đôi) làm Chính uỷ khi bọn phản động Pon Pot – Ingsary liên tục đưa binh lính vượt biên giới tàn sát đồng bào ta. “Ăn chưa hết 30 ký bo bo” tháng 2.1976 Tỉnh uỷ Tây Ninh đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ đưa ông Sáu Thượng sang làm Chủ tịch UBND tỉnh.
Ông kể: “Căng lắm! Trên biên giới Khmer Đỏ tập trung quân lăm le tiến sang; Ở dưới này đời sống nhân dân thì nghèo đói bệnh tật; Ruộng đất hoang hoá sức kéo giống phân tro… cái gì cũng thiếu”.
Trợ cấp của Trung ương cũng có hạn ông Sáu Thượng và ông Hai Phát (Phó chủ tịch) bàn nhau xin phép Tỉnh uỷ xuống các tỉnh miền Tây đổi 100 m3 gỗ lấy lúa cứu đói. Thương Tây Ninh đang gồng mình căng sức chuẩn bị lực lượng hậu cần cho cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc 3 tỉnh miền Tây là Hậu Giang Vĩnh Long – Trà Vinh An Giang không lấy gỗ mà sẵn sàng chi viện một máy phát điện 300 KV 2.000 tấn lúa thịt lẫn lúa giống. Trên đường về ông Sáu Thượng bàn với ông Hai Phát ghé ngang thành phố HCM gặp ông Bảy Máy – Bộ trưởng Lương thực xin đổi 1.000 tấn lúa lấy phân tro cứ 1 kg lúa đổi 2 kg U-rê. Coi như Tây Ninh đã tạm thời vượt qua khó khăn về thiếu hụt lượng thực lúa giống phân tro… tập trung sức dân thúc đẩy sản xuất.
Đồng đất Tây Ninh vốn khô khét vì thiếu nước. Từ trước năm 1975 nguỵ quyền Sài Gòn từng có dự án xây dựng công trình thuỷ lợi Lòng hồ Dầu Tiếng đủ sức cung cấp nước tưới cho tỉnh Tây Ninh Sông Bé (cũ) Long An và huyện Củ Chi – TP. HCM được Ngân hàng Thế giới (WB) đồng ý cho vay hơn 100 triệu USD để đầu tư. Năm 1977 nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng (sau là Thủ tướng_ cùng với Bộ trưởng Bộ Thuỷ Lợi Nguyễn Thái Bình xin phép Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện dự án này và thông qua các kênh ngoại giao vận động WB nối lại việc cho vay vốn đầu tư. Tuy nhiên phải trải qua hàng loạt các khâu khảo sát thiết kế trình dự án đến ngày 23.4.1981 công trình thuỷ lợi có hồ chứa nước dung tích 1 5 tỉ m3 nước lúc ấy chỉ đứng sau Thác Bà nhưng được đánh giá là có năng lực nước tưới lớn nhất Đông Dương mới chính thức khởi công.
Bây giờ bất kể người Tây Ninh nào ở độ tuổi trung niên cũng đều nhớ một thời cả tỉnh huy động toàn bộ sức dân để đào đắp hệ thống kênh mương dài hàng trăm cây số. Trong hồi ức của ông Sáu Thượng ngày ấy có người nhất quyết không tán thành việc xây dựng công trình thuỷ lợi Lòng hồ Dầu Tiếng “vì làm gì có nước mà làm hồ” chỉ hao tốn đất đai công sức của người dân. Thậm chí ông còn bị nghi ngờ là vì “mưu lợi cá nhân” nên mới nhiệt tình đôn đốc các ngành các cấp và nhân dân tham gia xây dựng công trình.
Ông nói như tâm sự: “Bác là lính hai cuộc chiến tranh đã để lại cho bác 12 vết thương: nặng có nhẹ có. Bác chỉ hiểu một điều: Là người lính mình phải chấp hành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Mặt khác có hệ thống thuỷ lợi Lòng hồ Dầu Tiếng đồng nghĩa với việc người dân Tây Ninh và các tỉnh thành lân cận sẽ không còn sống trong cái cảnh phải trông trời trông đất chờ mưa”.
Nhà nhà đi làm thuỷ lợi người người đi làm thuỷ lợi. Ông cùng hai Phó chủ tịch tỉnh là ông Năm Tú và ông Hai Thiện liên tục đi xuống từng huyện xã gặp nhân dân gặp các vị lãnh đạo tôn giáo để vận động bà con tham gia. Khi 2 trong 5 cửa cống xả của đập tràn bị sự cố gần như ngày nào ông cũng trực chiến tại công trình.  Vụ đông xuân 1984 – 1985 vụ canh tác đầu tiên mà hệ thống thuỷ lợi hồ Dầu Tiếng đưa vào sử dụng (mặc dù việc thi công vẫn còn đang tiếp tục) bằng lượng nước tự chảy thì hệ thống kênh Tây đã cung cấp nước cho khoảng 10.000 ha hệ thống kênh Đông khoảng 4.000 ha… Đến năm 1989 hiệu quả bước đầu của khu vực nước tưới thuộc tỉnh Tây Ninh so với năm 1984 khi chưa đưa công trình vào phục vụ: diện tích lúa tăng 10% năng suất tăng 8 14% sản lượng tăng 18 93%. Riêng vụ đông xuâtn diện tích tăng 64 86% sản lượng tăng 86 1%.
@ NGƯỜI CÓ NHIỀU QUÊ HƯƠNG:

Trong căn phòng khách khá đơn sơ ông lần giỡ những trang hồi ký của mình. Ông đọc cho tôi nghe những đoạn thơ ông viết tuy mộc mạc nhưng chứa chất nỗi nhớ thương những đồng đội đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ.
“…Ngày nay nhiệm vụ đã tròn
Tuy vui mà lòng vẫn hãy còn vấn vương.
Nhớ đồng đội nhớ chiến trường
Nhớ bao đồng chí thân thương không về.
Từ trong sâu thẳm ngổn ngang
Còn ai vương vấn năm xương tàn nơi đâu?”.
Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo không có ruộng đất chuyên đi làm thuê tại xã Đức Hoà Hạ huyện Đức Hoà tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Năm 1940 cách mạng nổi dậy cướp chính quyền xã. 1 người bác 2 người chú và 1 người anh của ông tham gia cách mạng bị lính Pháp bắn chết gia đình ông bị ghi vào sổ bìa đen của mật thám. Hình ảnh lính lê dương đàn áp phong trào cách mạng: giết người đốt nhà tra tấn tù đày những người kháng chiến… đã ghi khắc vào trong tâm khảm của chàng trai trẻ Sáu Thượng. 16 tuổi ông làm liên lạc đưa tin thư từ tài liệu cho cách mạng trong phạm vi huyện Đức Hoà. Ngày 19.8.1945 ông vào bộ đội giải phóng quân liên huyện Đức Hoà – Bà Điểm – Hóc Môn do ông Trần Văn Trà Tô Ký Huỳnh Văn Một chỉ huy tham gia hàng chục trận đánh lớn nhỏ cho đến ngày tập kết ra Bắc.
Đầu năm 1960 ông cùng 28 đồng chí khác vượt Trường Sơn về Nam. Trên đường đi mỗi người phải mang ba lô nặng 30 kg trong đó có vàng và máy liên lạc vô tuyến điện trung ương viện trợ cho Xứ uỷ Nam bộ. Trên đường đi mảnh đạn còn sót lại trong phổi ông hoành hành ói ra máu tưởng đã phải nằm lại. Nhưng người – lính Sáu Thượng không dễ dàng quỵ ngã và càng không thể quỵ ngã vì trước lúc lên đường về Nam ông được ăn cơm với Bác Hồ đã quyết tâm với Bác sẽ về đến miền Nam chiến đấu. Trước lúc chia tay Bác đã ôm chặt từng người căn dặn: “Các chú đi trước nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới đồng bào đồng chí miền Nam ruột thịt. Rồi nhất định có một ngày Bác sẽ vô thăm miền Nam”. Cũng từ những người đầu tiên vượt núi băng rừng ròng rã suốt 10 tháng trời mới về tới Chiến khu D (Mã Đà Đồng Nai) tháng 12.1960 tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường Nam bộ được thành lập. Đồng chí Hai Xô thường vụ Xứ uỷ Nam bộ phụ trách quân sự lúc bấy giờ nhấn mạnh: Đây là đốm lửa và sau này sẽ cháy thành rừng lửa góp phần cùng toàn dân toàn quân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
***
Năm 1986 ông Sáu Thượng rời Tây Ninh – quê hương thứ hai của ông - chuyển sang làm Uỷ viên thường trực Ban chỉ đạo việc nghiên cứu chương trình khai thác và phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng Tháp Mười – Tứ giác Long Xuyên. Vào thời điểm ấy Đồng Tháp Mười vẫn còn khoảng 335.000 ha đất hoang hoá chiếm 53% diện tích tự nhiên. Tập quán canh tác lâu đời của người dân trong vùng là sản xuất lúa mùa nổi và lúa mùa 1 vụ năng suất thấp (1 – 1 2 tấn/ha). Các cây trồng khác hầu như chưa phát triển. Đất đai bị phèn nặng mùa lũ nước ngập sâu nhưng mùa khô lại thiếu nước ngọt.
Người- lính Sáu Thượng lại lặn lội khắp các đồng bưng Đồng Tháp Long An Tiền Giang cùng các nhà khoa học nắm bắt và phản ánh kịp thời tình hình khai hoang điều động dân cư vào khu vực Đồng Tháp Mười cho Ban chỉ đạo và Chính phủ. Thậm chí để vận động bà con nông dân sử dụng giống lúa mới bỏ hẳn sản xuất lúa mùa nổi và lúa mùa 1 vụ năng suất thấp chuyển sang sản xuất lúa 2 vụ 3 vụ năng suất cao ông Sáu và các nhà khoa học phải đến áp dụng chiến thuật “vết dầu loang” vận động từ từ nhà này làm có hiệu quả nhà khác học tập làm theo…
Khi Đồng Tháp Mười có lúa để xuất khẩu ông lại tiếp tục tham gia công tác chỉ đạo việc nghiên cứu thực hiện chương trình thoát lũ ra biển Tây. Mãi đến năm 2000 khi ấy đã 74 tuổi ông mới nhận được quyết định nghỉ hưu.
Nhưng người-lính-già Sáu Thượng vẫn chưa thể nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng Tây Ninh hay các tỉnh miền Tây cho xe lên thành phố mời ông về để “tư vấn” việc này việc khác. Trung tuần tháng 1.2007 Ban liên lạc cựu chiến binh Chợ Lớn – Trung huyện lại bầu ông làm Trưởng ban.
Lương đại tá về hưu trên dưới 4 triệu đồng ông đã chi hết 1 2 triệu đồng để trợ cấp cho hai gia đình có công với cách mạng. Ông cười: “Ngôi nhà bác đang ở là nhà tình nghĩa đó. Năm 1990 Nhà nước cấp cho ông miếng đất nhỏ ở xã Bình Trị Đông huyện Hóc Môn bây giờ thuộc quận Bình Tân lãnh đạo Tây Ninh và các tỉnh miền Tây góp tiền lại xây giúp”.
80 tuổi người-lính-già Đặng Văn Thượng đã có thể mãn nguyện khi có người cháu nội Đặng Lâm Thãnh tiếp bước con đường binh nghiệp của ông. Nhưng mỗi đêm bên ngọn đèn bàn ông ghi lại những hồi ức của mình ông viết cho Báo Tây Ninh những trăn trở về đời sống người dân về những vận hội mà Tây Ninh có được hay chưa nắm bắt được.
Lúc chia tay ông bảo với tôi: “Bác sinh ra ở Long An nhưng Tây Ninh hay Đồng Tháp Tiền Giang – những nơi mà bác từng sống và gắn bó đều có thể gọi là quê hương. Mà quê hương thì có ai không nhớ phải không cháu?”.
ĐẶNG HOÀNG THÁI

    

Đặng Thế Hiền

Cám ơn bạn đã có một bài viết sâu sắc về Ông tôi.Chúc bạn sức khỏe và thành công.

Tp.HCM 06/03/2011

Mai Nhật Lâm

Mai Nhật Lâm

Mai Nhật Lâm rất ngưỡng mộ văn phong và máu nghể nghiệp của anh Thái. Tin rang anh se còn thành công nhiều hơn nữa

Đặng Hoàng Thái

Cám ơn laopham

Cám ơn laopham đã nhớ đến Thái. Biết khi nào mới có một cơ hội tương tự thế nữa tiếc thật! Thôi thì đành gặp nhau qua blog vậy!

laopham

Chào Thái

Mấy bữa trước mình có dịp ghé Tây Ninh tính gọi Thái để uống với nhau một ly caphe nhưng vừa đến nơi lại có việc gấp phải lộn lại Saigon. Giờ ra HN rồi gặp bài viết của Thái lại tiếc vì mình không có duyên hội ngộ