NGUYỆT

Truyện ngắn: Thanh Nam

Lũ quét khiến chuyến tàu TN4 từ Sài Gòn đi Hà Nội bị chậm lại mười ba tiếng tại Nha Trang nghĩa là chuyến về phép thăm quê của tôi mất đứt nửa ngày hơn. Hết nằm lại ngồi tôi ngắm nghía thật kỹ cảnh vật xám xịt ngoài ô cửa sổ rồi lại ngắm nghía từng người một trong toa bắt chuyện với vài ba người ngồi gần cho đỡ buồn. Người đối diện tôi là đáng chú ý nhất. Trông ông ta có vẻ già vì tóc hai bên thái dương bạc trắng ông lại có vẻ trẻ vì phong độ của sự thành đạt toát ra từ con người ông. Ông giống VIP vì vậy toa tàu chậm này có vẻ không thích hợp với ông lắm. Ngồi lặng lẽ cạnh cửa sổ ông ngó đăm đăm ra bên ngoài chẳng quan tâm đến ai. Chuyện tàu bị trễ hay sớm dường như cũng không liên quan đến ông. Tôi tò mò ngó theo xem cái gì mà thu hút ông đến thế? Chẳng có gì ngoài ngôi nhà ga trắng nhợt dãy quán hàng lô nhô nhạt nhẽo dưới làn nước mưa mờ ảo. Thật ra hình như ông không nhìn mưa ông nhìn cái gì đó xuyên qua mưa... Tôi muốn bắt chuyện nhưng chưa tìm được dịp bỗng dưng ông ta tạo cơ hội cho tôi: này cậu cậu về Hải Dương à? Vâng. Tôi cũng quê Hải Dương đây là lần đầu tiên tôi về quê ba mươi năm rồi. Tàu còn trễ lâu hay ta đến căntin uống ly cà phê cho ấm. Tôi đi theo ông ta lòng nghi hoặc: sao mình nghe lời ông dễ dàng như vậy?

Tôi ở NS còn cậu? Ông lại truy tiếp. Cháu cũng NS (ông ta cũng cởi mở đấy chứ). Xã nào làng nào? Làng Nội. Làng Nội à cậu con cái nhà ai? Cháu con ông Thành. Ông Thành tôi không nhớ. Thế cậu có biết chị Nguyệt không? Chị Nguyệt? Ừ chị Nguyệt của tôi...

....................................

Chị Nguyệt là con người bác họ tôi. Ngày xưa cái ngày mà tôi còn bé tẻo tèo teo chị Nguyệt đã là thiếu nữ đẹp nhất làng Nội. Mắt chị đen tròn miệng cười ngọt ngào tóc chị dài mượt mà như suối đến tân gối mùi hương nhu mùi lá sả mùi bồ kết quyện theo bước chị. Trai làng ngẩn ngơ nhìn theo có kẻ huýt sáo tán thưởng khiến chị đỏ mặt lại càng đẹp. Bao nhiêu năm xa quê tôi vẫn nghe mùi hương dịu dàng ấy thoảng nhẹ trong giấc mơ tha phương. Phụ nữ quê tôi cả đời chỉ có gánh đội khi chạy chợ và cúi người trên cánh đồng rau đồng lúa làm nông. Chị Nguyệt cũng thế thủơ ấy sáng nào tôi cũng đi học qua giếng làng cả những ngày đông lạnh cắt da hay ngày hè nóng bức vẫn thấy chị với đôi gánh trên vai vục gàu xuống nước rồi sóng sánh tưới hành tưới cải. Lần nào tôi cũng kêu: chị Nguyệt lần nào chị cũng cười: em đấy à! Cả gương mặt chị lấp dưới khăn và nón chỉ có đôi mắt lóng lánh vui tươi. Làng Nội còn nổi tiếng bởi nghề hàng xáo khắp tỉnh Hải Hưng ngày ấy tức Hải Dương bây giờ không làng nào chạy chợ giỏi bằng làng Nội. Chị Nguyệt cũng chạy chợ. Một tháng có ba ngày chợ phiên mùng năm mười lăm hai mươi lăm chị lại kẽo kẹt gánh hàng ra chợ. Gánh hàng của chị cũng chẳng có gì nhiều hai đầu hai gánh rau cải thêm vài con gà dăm bó hoa. Chị đẹp duyên dáng lại khéo bán buôn nên mau hết hàng. Khoảng chín giờ sáng là xong quanh gánh thong dong trên vai chị về. Và tôi thơ thẩn chơi ở chùa Đào chờ chị đi ngang rồi cùng về.

Chị Nguyệt đẹp. Không phải chỉ vì luôn được đối xử đặc biệt mà tôi khen chị đẹp mà chính người già người trẻ trong làng cũng khen chị đẹp. Con gái cùng trang lứa với chị thì ghen tị trai làng thì ngẩn ngơ trông vời người già cả thì khác hơn chép miệng: cái Nguyệt đẹp thế thì khổ tiên mắc đoạ đấy thôi!

Ngẫm lại người già bao giờ nói cũng đúng! Nhà bác tôi có tất cả năm người con bốn gái và một trai duy nhất. Người con trai này còn nhỏ hơn tôi mười tuổi nhỏ hơn người chị thứ tư mười một tuổi. Nghe mẹ tôi kể do bác tôi là cả mà không có con trai nên "vất vả lắm" mỗi khi có hội hè đình đám tang ma bốc bái là bác trốn biệt vì bị dòng họ chê "cả mà không có con trai" đến khổ! May sao sau một lần lên Kiếp Bạc cầu ông bác gái đã có con trai. Người con trai này sau khi sinh phải mang dâng cho chùa đến mười hai tuổi mới đón về cả nhà ai cũng gọi là "cậu". "Cậu" được cưng như trứng mỏng và đương nhiên bốn người chị trở thành bốn người hầu của "cậu" mặc tình "cậu" sai phái. Tôi ghét thằng nhóc đó vì lúc nào nó cũng được chị Nguyệt bồng bế trên tay dỗ ăn dỗ ngủ và thường xuyên làm tình làm tội các chị gái nhất là chị Nguyệt. Một lần không nhớ như thế nào mà "thằng cậu trời" đó lang thang ra cầu ao một mình. Đừng bên nhà tôi thấy nó lẫm chẫm bước sát bờ ao rồi rướn người định vin cành táo dại sát mép nước. Nó cứ vươn tới và tôi chờ đợi. Thời gian nín lặng rồi chợt vờ oà khi tiếng chị Nguyệt thét lên đồng thời với tiếng nước văng tung toé vì thằng "cậu" rơi. Cũng đồng thời chị Nguyệt lao theo. Tôi đứng như trời trồng đau đớn nhìn bác gái tôi một tay nắm tóc một tay vả liên hồi vào mặt chị Nguyệt vừa đánh vừa hét: mày làm gì cậu mày làm gì cậu... Chị Nguyệt che mặt khóc nức nở. Tôi không dám đi học ngang ao làng hay đứng chờ chị Nguyệt ở chùa Đào nữa tôi sợ chị biết được tôi đã im lặng nhìn thằng "cậu" trời rơi xuống nước như thế nào!

Rồi chị Nguyệt lấy chồng. Ở quê tôi con gái lấy chồng từ thuở mười lăm mười sáu còn chị lấy chồng mười tám có thể xem là trễ. Chị lấy chồng cũng là sự kiện. Trai làng Nội dù ngưỡng mộ chị nhưng từ xưa trai gái trong làng không lấy nhau bao giờ. Bởi họ Phạm vốn là một họ lớn nên hầu hết người trong làng đều là họ hàng cả. Trong vòng bán kính mười cây số trai gái không nên tìm hiểu nhau làm gì vì rất có thể là người trong họ. Thế mà chị Nguyệt và anh Ân lại yêu nhau. Anh Ân con của ông Thứ chị Nguyệt hỏi bố: thế chúng ta có họ hàng như thế nào với ông Thứ? Bác tôi trả lời: không biết nhưng cùng họ Phạm tức là có họ hàng không được lấy nhau! Bác tôi muốn chị lấy anh Vịnh người làng bên cạnh họ Vũ. Chị Nguyệt khóc lóc thảm thiết nhưng chẳng lay chuyển được ai.

Xuân năm đó làng Nội lại vào hội. Tối mùng năm trời rét run lập cập. Chị Nguyệt bảo tôi xin mẹ cho đi xem hội cùng chị. Mẹ gật đầu bảo: trời lạnh lắm đấy mặc thêm áo vào nhớ đừng buông tay chị ra đấy. Tôi hớn hở nắm tay chị. Chị cũng mặc hai ba áo cả sơmi hoa cả áo len nhưng vẫn không che nổi những đường cong con gái. Tôi nắm tay chị cố tình dụi mặt vào mái tóc dày buông dài đến gối sực nức mùi bồ kết mùi hương nhu mùi lá sả. Tiếng trống tiếng đàn tiếng hát rộn ràng trong sân đình lôi kéo đàn ông đàn bà nam thanh nữ tú lũ lượt kéo nhau ngồi chật sân đình. Nhốn nháo nhất là đám trẻ con chúng la hét len lỏi chạy đuổi nhau. Tôi và chị Nguyệt tìm một chỗ đứng hơi khuất dưới tán cây si. Tôi không thích chỗ này lắm nhưng chị Nguyệt thích: ngồi chỗ này dễ nhìn em ạ! Một lúc chị Nguyệt bảo: hay em cứ chạy chơi một lúc khi nào mệt thì  về đây với chị. Tôi linh cảm điều chẳng lành nên không muốn bỏ đi đâu cả nhưng mãi chẳng thấy gì trong khi đó bọn trẻ con đang kêu réo còn đám hát chèo chẳng có gì hay. Tôi tặc lưỡi: chị nhớ đợi em đấy! Ừ chị đợi. Chị Nguyệt cười nụ cười làm rạng cả trời đêm.

"Con đĩ mày giết bố mẹ mày rồi!" tiếng thét của bác gái của tôi xé tan cả màn đêm u tối. Tôi nghe tiếng bước chân chạy rầm rập tiếng la hét tiếng bàn tán xôn xao cao hơn hết là âm thanh lanh lảnh chói lói của bác tôi. Bác la hét những gì không rõ hình như là "con đĩ" hình như là "mày bôi tro giát trấu vào bố mẹ mày" hình như là "mày giết bố mẹ mày"...Tai tôi ù đi mắt tôi nhoà đi... Trước mắt tôi chỉ còn hình ảnh chị Nguyệt quằn quại lê lết trên mặt đất áo quần tả tơi mái tóc dài của chị bị xoắn lại trong tay bác. Xa hơn một chút đám trai làng đang say máu đấm đá không thương tiếc anh Ân. Anh ta nằm im hình như  bất tỉnh.

Suốt mùa hội Tết người ta vừa vui xuân vừa bàn tán kể chuyện cái Nguyệt nhà lão Hợi ăn nằm với anh Ân nhà ông Thứ ngay tại khu nhà mộ tổ. Thấy bóng chị Nguyệt ở đâu là người ta lại rủa: đồ quạ tha diều mổ đẹp cho lắm vào! Anh Vịnh tuyên bố là lấy heo lấy gà còn hơn lấy chị Nguyệt. Hết tháng giêng hội làng cũng hết người ta lại lao vào làm ăn. Chuyện chị Nguyệt tạm thời không nhắc đến nhưng nhà bác vẫn nặng nề u ám như có tang còn chị bị cấm không ra khỏi nhà. Bác gái tôi nằm liệt giường bà cứ lảm nhảm: nó giết tôi nó giết tôi rồi. Bác tôi bỏ đi từ sáng đến tối rồi đột ngột tuyên bố sẽ gả chị Nguyệt cho anh Vĩ người tận Thanh Hà là thợ xây. Bác cho không không cần cheo cưới. Tôi nghe tin vội vã chạy sang nhà bác thấy chị Nguyệt đang ngồi âm thầm nhìn ra cửa sổ thấy các em gái chị cũng im lìm như chiếc bóng. Tôi lặng lẽ ra về đến cầu ao thì bất chợt nghe tiếng gọi: "này An". Hóa ra là chị Luyến em kế chị Nguyệt. Chị gọi tôi lại gần rồi nhét vào tay tôi mảnh giấy: "Đưa cho anh Ân". Chị quay ngoắt đi lướt vào trong bếp.

Tôi chạy tắt đường đê sang nhà anh Ân để đưa anh mảnh giấy. Anh run run đọc rồi ngồi phịch xuống thềm nhà tôi đứng chờ xem anh có dặn dò gì không nhưng mãi anh mới nói: em về đi nói chị Nguyệt là anh biết rồi. Tôi về báo cáo lại với chị Nguyệt chị cười lại nụ cười rạng rỡ. Chị ôm chầm lấy tôi âu yếm hôn lên má và tôi lại dụi đầu vào mái tóc chưa nhạt mùi Nguyệt của chị lòng cảm thấy đau đớn mười tuổi đầu tôi đã cảm thấy đau xót cho một người con gái vì một ngừơi con gái!

Nét mặt người đàn ông thắt lại ông như già đi mười tuổi. Không hiểu sao tôi lại buột miệng hỏi:

-         Ông yêu chị Nguyệt à? Hỏi xong tôi mới biết mình đường đột.

-         Ờ khi ấy tôi mới mười tuổi cậu nghĩ có biết yêu không?

Ông kể tiếp. Hôm đó từ nhà chị đi ra tôi lên thẳng chùa Đào dọc đường thấy anh Vịnh tay cầm chai rượu lảo đảo té dúi dụi vào hàng râm bụt. Tôi vào chùa quỳ xuống tôi không biết khấn nên im lặng nhưng tôi nghĩ  Phật sẽ hiểu thấu lòng tôi.

Nửa đêm về sáng hôm ấy nhà bác tôi lại một phen ầm ĩ náo động cả xóm làng. Chị Nguyệt biến mất. Bác tôi sau một hồi gầm lên đập phá tất cả những gì có thể đập được đã cùng một số trai tráng trong họ lao đi kiếm.

Quả nhiên chị Nguyệt không thoát được. Người ta tìm thấy chị hay đúng hơn là từng mảnh thân thể chị trên đường ray xe lửa. Tấm thân con gái bẹp dúm tan nát nhưng lạ lùng là mái tóc dài vẫn vẹn nguyên hầu như không đứt sợi nào. Hóa ra đêm ấy chị Nguyệt đã hẹn bỏ nhà đi với anh Ân nhưng chị ra ga chờ mãi đến gần sáng vẫn không thấy anh đâu lại không tìm được lối về nên chị đành lao vào xe lửa. Rất lâu sau này thỉnh thoảng người ta vẫn thấy bóng một người con gái tay xách hòm quần áo thơ thẩn trên sân ga. Mái tóc cô ta dài quá gối và những đêm cô xuất hiện thì sáng hôm sau sân ga lại ngào ngạt mùi Nguyệt bồ kết.

Tôi lên chùa hỏi Phật sao lại từ chối lời cầu nguyện của tôi. Sao không cho tôi chuộc lại lỗi lầm. Phật nhìn tôi im lìm!

--------------

Người đàn ông kể xong thì ngoài cửa sổ bóng tối đã mênh mang mưa đã thôi rả rích. Hành khách ngủ yên. Yên lặng tuyệt đối. Tiếng tôi mơ hồ vọng lại: Bây giờ ông muốn tìm gì ở làng Nội? Tôi muốn tìm chị Nguyệt của tôi tìm người con gái năm xưa có dáng người tha thướt có mái tóc dài ngan ngát mùi hương trinh nguyên đồng nội. Để làm gì?

          Người đàn ông im lặng. Tôi im lặng.

Lỗi lầm. Làm sao chuộc hết mọi lỗi lầm? Làm sao thời gian có thể quay trở lại để thằng bé mười tuổi là ông lúc đó im lặng cảm thông mà không gọi người đến bắt quả tang cặp trai gái đang yêu nhau ở khu mộ tổ? Hay như cha tôi ông An ngay đêm chị Nguyệt lao vào xe lửa cũng đã bỏ quê biệt tích thay họ đổi tên nhưng trong bốn mươi năm qua chưa đêm nào ông yên giấc. Đêm đêm ông vẫn tự hỏi: sao ông hèn nhát bỏ rơi người con gái ấy? Hay ông Vịnh ngày càng nát rượu mỗi lần say lại khóc thảm thương: Nguyệt ơi.

Tối mai khi tôi về đến làng Nội tôi sẽ lại ra mộ khấn vái linh hồn của dì Nguyệt và người anh trai cùng cha khác mẹ chưa kịp chào đời của tôi. Liệu có còn kịp để tha thứ không?

T.N

 

Nguyễn Đức Thiện

Một truyện ngắn viết rất hoạt và cảm động. Mong được đọc thêm nhiều sáng tác của TN